Hiển thị các bài đăng có nhãn PHỤNG VỤ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn PHỤNG VỤ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 21 tháng 4, 2014

Điều kiện để Bí Tích thành sự (Canonical Validity)

Hỏi: Một người đã làm linh nục giả trong nhiều năm ở một Tiểu bang kia trước khi bi khám phá. Như vậy những bí tích mà “ linh mục giả” này làm trong bao năm ở giáo xứ kia có thành hay không?

sacrament.jpg 
Trả lời : trước khi trả lời câu hỏi này, tôi thấy cần thiết phải nói qua về Chức Linh Mục (Priesthood) trong Giáo Hôi Công Giáo và Chính Thồng Giáo ( Orthodox Churches) vì chỉ có các Giáo Hội này có Chức Linh Mục của Chúa Kitô mà thôi.

Thật vậy, Chúa Giê su-Kitô được “ Thiên Chúa tôn xưng là Thượng Tế  theo phẩm trật Menki-xê-đê…và muôn thủa Con là Thượng Tế theo phẩm trật Menki-xê-đê” ( x. Dt 5: 6,10).

Như vậy Chức Linh Mục Thừa Tác ( Ministerial Priesthood) của hàng Linh mục và Giám Mục trong Giáo Hội bắt nguồn từ Chức Linh Mục đời đời của Chúa Kitô. Chính Chúa đã thiết lập Chức Linh Mục thừa tác này trong Bữa Tiệc Ly đêm thứ năm khi Người nói với các Tông Đồ hiện  diện : “ anh  em hãy làm việc này để tưởng nhớ đến Thầy.” ( Lc 22:19; 1 Cor 11: 24-25)

Theo tín lý  và giáo  lý của Giáo Hội, thì  chức Giám mục “ nhận lãnh trọn vẹn Bí tích Truyền Chức Thánh tức là Chức Tư Tế tôi cao” nghĩa là được chia sẻ trọn vẹn Chức Linh Mục đời  đời  của Chúa Kitô  “ Vị  Thượng Tế theo phẩm chật Menki-xê-đê”( LG.số 21, SGLGHCG ,số 1557) trong khi Linh mục,  phụ tá đắc lực của Giám mục,  chỉ chia sẻ một phần Chức Linh Mục tối cao đó , nhưng “ dù không có quyền thượng tế và tùy thuộc giám mục khi thi hành quyền bính, linh mục cùng hiệp nhất với giám mục trong tước vị tư tế” (Sacerdos)( LG. no. 28).

Đó là đại cương về Chức Linh Mục thừa tác của Giám Mục và Linh Mục trong Giáo Hội.

Chức Linh Mục phải được truyền chức ( ordain ) hữu hiệu hay thành sự ( validity) qua việc đặt tay của Giám Mục và lời cầu xin ơn thánh hiến của Chúa Thánh Thần theo đúng nghi thức Truyền chức thánh của Giáo Hội

Do đó nếu không có chức Linh mục hữu hiệu thì không thể có các bí tích sau đây:
                     
1- Bí tích Thánh Thể

2- Bí tích hòa giải

3- Bí tích Thêm sức ( được phép của Giám mục)

4- Bí Tích sức dầu bênh nhân

5- Bí Tích truyền Chức Thánh ( chỉ có giám mục được phong các chức Phó tế, Linh mục và Giám mục, vì Giám được chia sẻ trọn vẹn Bí tích Truyền Chức Thánh, Nhưng trước khi được  tấn phong làm Giám mục, nghĩa là được chia sẻ trọn vẹn Chức Linh Mục của Chúa Kitô, thì ứng viên phải là linh mục đã được chịu chức thành sự (validly ordained)

Như vậy , “linh mục giả” nghĩa là không có chức linh mục được truyền chức thành sự, thì không thể cử hành hữu hiệu bất cứ  bị tích nào trên đây, trừ hai bí tích Rửa tội và Hôn phối không đòi buộc thừa tác viên phải có chức linh mục. Dầu vậy,” linh mục giả” cũng không có tư cách đại diện Giáo Quyền để chứng hôn hay rửa tội với  cương vị  là linh mục.

Hơn thế nữa, nếu không phải là tư tế, nghĩa là không có chức linh mục thực thụ mà dám cử hành bí tích Thánh Thể hoặc giải tôi  cho ai  thì không những bí tích không thánh sự mà người làm những việc này còn tức khắc  bị vạ tuyết thông  tiền kết nữa. ( Latae sententiae ) ( x.giáo luật số 1378, triệt 2&3).
                           
Điều kiện để bí tích thành sự

Như đã trình bày  ở trên, nếu không có chức linh mục hữu hiệu thì không thể cử hành thành sự  các bí tích Thánh Thể, Hòa giải , thêm sức và sức dầu bênh nhân được..

1-  Bí Tích Thánh Thể ( Eucharist)

Bí tích này chỉ được cử hành trong khuôn khổ Thánh Lễ Tạ Ơn hay còn gọi  là Lễ Mísa, và chỉ có Giám mục và Linh mục được phép cử hành mà thôi. Nhưng dù có chức linh mục thực sự mà cử hành không đúng với ý muốn và phương thức qui định của Giáo Hôi ( kỷ luật bí tích) thi bí tích vẫn  không thành sự được. Thí dụ, thay vì dùng bánh không men (unleavened Bread) và rượu nho như Giáo Hội qui định, giả sử có linh mục nào tự ý “phăng ra” luật riêng của mình để  dùng bánh đa (bánh tráng) và rượu đế  lấy cớ đó là sản phẩm của người Viêt Nam, nhất là  tự chế ra lời truyền phép (consecration) thay vì đọc đúng phần lễ qui này theo chữ đỏ (rubric) thì bí tích sẽ không thành (invalid). Lại nữa, không phải lúc nào đọc lời truyền phép thì cũng có Mình và Máu Chúa Kitô mà chỉ được đọc trong Thánh Lễ Ta Ơn ( Eucharist)  mới có Bí tích Thánh Thể mà thôi. Nói rõ hơn, không thể vào tiệm bánh mì  hay tiệm rượu rồi đọc lời truyền phép mà có Bí Tích được,  dù có chức linh mục. Tóm lại, không thể có bí tích Thánh Thể ngoài Thánh Lễ Tạ Ơn, là “đỉnh cao của đời sống thiêng liêng của Giáo Hội nói chung và của mọi tín hữu nói riêng’’.

2-  Bí Tích Truyền Chức Thánh ( Holy Orders) :

Chỉ có Giám mục thực thụ được phép cử hành bí tích này mà thôi. Có điều ngoại lệ ở đây  là nếu Giám mục  nào của Giáo Hội  mà  tự ý đặt tay truyền chức giám mục cho linh mục nào thì bí tích vẫn thành sự (validly) nhưng bất hợp pháp ( Illicitly) vì không có phép của Đức Thánh  Cha. Trong trường hợp này  cả giám mục truyền chức  và giám mục được thụ phong đều tức khắc bị vạ tuyệt thông tiền kết ( Latae sententiae) (x. Giáo luật  số 1382)

3- Bí Tích rửa tội:

Về  bí tích Rửa tội, nếu không dùng nước để đổ trên đầu hay trán của ứng viên ( hoặc dìm đầu xuống nước=immersion )  hay không đọc đúng công thức Chúa Ba Ngôi thì bí tích sẽ không thành sự được trong bất cứ trường hợp nào. Tóm lại, phải có nước lã và đọc đúng công thức “ Tôi ( cha) rửa con (em , anh chị, ông bà) Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.

Thừa tác viên chính thức của bí tích này là Giám mục và linh mục. Phó tế cũng được phép rửa tội, nhưng thông thường chỉ rửa tội cho trẻ em thôi. Sở dĩ phó tế không được rửa tội cho người lớn vì người lớn ( từ 18 tuổi trở lên) xin rửa tội là những tân tòng (catechumens) phải tham dự lớp giáo lý riêng ( RCIA) trước khi được rửa tội, thêm sức và rước Minh Thánh Chúa trong đêm vọng Phuc Sinh.Vì thế chỉ có linh mục được cử hành ba bí tích này dành cho người tân tòng mà thôi. Nhưng trong trường hợp khẩn cấp, nguy tử thì bất cứ ai – kể cả người chưa được rửa tôi- cũng có thể rửa tội thánh sự nếu làm theo ý Giáo Hội với nước và công thức Chúa Ba Ngôi. ( x. SGLGHCG, số  1256)

 4- Bí Tích Sức dầu bệnh nhân:
  
Chỉ có Giám mục  và linh mục được cử hành mà thôi. Và phải dùng dầu đã được làm phép cho mục đích này với công thức sức dầu qui định. Nếu không có dầu thì không thể có bí tích được. Ngoài Giám mục và linh mục ra, không ai được cử hành bí tích này trong bất cứ trường hợp nào. Sở dĩ phải nhấn mạnh điều này ở đây vì có linh mục đã làm phép dầu để bán cho giáo dân với lời dặn là họ có thể sức dầu cho nhau !

5- Bí Tích Hôn Phối :

Riêng bí tích hôn phối, mặc dù thừa tác viên chính của bí tích này là hai người phối ngẫu ( sx, SGLGHCG số 1623) và khi trao đổi lời ưng thuận kết hôn với  nhau, họ trao bí tích này cho nhau. Nhưng nếu thiếu một trong những điều kiện cần thiết sau đây thì bí tích sẽ không thành sự được:

a-      hai người phối ngẫu phải hoàn toàn tự do muốn kết hôn với nhau , ý thức rõ và thực tâm muốn sống trọn đời mục đích của giao ước này.  Hôn phối sẽ vô hiệu lực (không thành sự) nếu bị ép buộc, đe dọa  hay lợi dụng kết hôn làm phương tiện để ra nước ngoài, hoặc có ý lừa dối để lấy nhau. Thí dụ : đã có vợ hoặc chồng rồi nhưng khai là chưa từng kết hôn, hoặc không phải là người có danh vọng như bác sĩ, kỹ sư, giám đốc, chủ ngân hàng v.v  nhưng mạo nhận  để lừa dối người phối ngẫu. ( x. Giáo luật số 1097-98)

b-      cả hai đều bình thường (normal) về mặt tâm sinh lý ( không ai có bệnh  tâm thần, hoặc bất lực hay khiếm khuyết  về cơ năng sinh lý)

c-      Phải có hai người làm chứng (witness) trong lễ thành hôn.

d-      Hôn lễ phải được cử hành theo đúng nghi thức của Giáo Hội với sự chứng hôn của vị đại diện Giáo Quyền là  linh mục hay phó tế. (x. giáo luật số 1108). Đai diện Giáo Quyền sẽ nhận lời bảy tỏ ưng thuận kết hôn của đôi hôn phối và chúc lành cho họ. ( x. SGLGHCG, số 1630)

Bí tích là phương thế hữu hiệu nhất để được nhận lãnh ơn sủng đồi dào của Chùa ban cho chúng ta qua Giáo Hội là Thân Thể Nhiệm Mầu của Chúa Kitô trong trần gian. Nhưng muốn lãnh nhận ơn thánh Chúa qua qua các bí tích Thánh Thể, Hòa giải, Thêm sức  Sức dầu và Truyền  chức thánh,  thì tiên quyết đòi hỏi thừa tác viên các bí tích này  phải có chức linh mục thực thụ ( chức giám mục cho bí tích Truyền Chức thánh) như đã nói ở trên.

Đó  là về phía Thừa tác viên (Ministers). Về phần người muốn lãnh nhận ơn thánh qua các bí tích nói chung, thì điều kiện tiên quyết và  tối cần là phải được chuẩn bị kỹ về mặt giáo lý để hiểu rõ những lợi ích thiêng liêng của bí tích muốn lãnh nhận cũng  như có lòng ao ước được hưởng những lợi ích đó. Nếu không có sự chuẩn bị và ước ao này thì ơn thánh sẽ không thể tác động hữu ích trong tâm hồn của người lãnh nhận được. Cụ thể, nếu không được chuẩn bị kỹ để tin rằng bí tích Thánh Tẩy ( Rửa tội) không những tha tội nguyên tổ (trẻ em và người lớn ) và mọi tôi cá nhân (người lớn) cùng với mọi hình phạt hữu hạn của các tội này ( x SGLGHCG số 1263)  và có lòng ao ước như vậy thì  Ơn thánh Chúa ban qua bí tích này không thể hoạt động hữu hiệu nơi người được rửa tội. Nghĩa là không thể lấy nước đổ đại trên đầu bất cứ ai rồi đọc công thức rửa tội là người đó được ơn tái sinh của phép rửa.

Trong trường hợp này , việc đổ nước trên đầu cũng ví như đổ trên sỏi đá hay trên bụi gai và nước sẽ trôi đi mà thôi. Ngược lại , nếu được chuẩn bị chu đáo để có lòng tin và ước muôn lãnh nhận, thì tâm hồn sẽ ví như lớp đất xốp và nước tượng trưng cho ơn thánh sẽ thâm sâu vào tâm hồn để sinh ơn ích thiêng liêng trong tâm hồn ấy… Cùng vậy, nếu không tin Chúa Giêsu thực sự hiện diện trong hình bánh và rượu nho, và không có lòng khao khát muốn rước Chúa vào linh hồn mình đang sạch tội trọng, thì rước Lễ chỉ là ăn chút  bánh mì và uống tí rượu  trong bữa ăn thường ngày ở nhà mà thôi. Nghĩa là chẳng có lợi ích gì về mặt thiêng liêng cả. Cũng vì lý do này mà Giáo Hội không cho phép trao Minh Thánh Chúa cho người ngoài Công Giáo, dù họ tham dự Thánh lễ chung với tín hữu Công giáo, vì họ không hiểu mục đích và điều kiện của sự hiệp thông trọn vẹn này.

Tóm lại, Ơn Thánh Chúa thì lúc nào cũng dồi dào và hữu hiệu qua các bí tích. Nhưng hiệu quả này  không thể được ví như liều thuốc chích vào cơ thể ai  thì dù muốn hay không, thuốc vẫn tự tác động trong cơ thể của người ấy. Nếu chích lầm thuốc độc thì bệnh nhân sẽ chết dù  không hề mong muốn tai nạn này. Ngược lại, Ơn Thánh Chúa ban qua các bí tích không tự tác động như vậy trong tâm hồn người lãnh nhận nếu không có sự chuẩn bị chu đáo về mặt thiêng liêng để gịục lòng tin, lòng muốn và sạch tội trọng. ( nếu muốn rước Mình, Máu Thánh Chúa qua  bí tích Thánh Thể)


Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Thứ Hai, 21 tháng 4, 2014 by Unknown · 0

Thứ Năm, 3 tháng 4, 2014

Tại sao Phó tế mang dây Stola chéo?


Trong thánh lễ đồng tế, các linh mục đeo dây stola buông thõng xuống, còn các phó tế thì đeo dây stola bắt chéo từ vai bên trái sang hông bên phải. Tại sao vậy? Dây stola có ý nghĩa gì?

deacon.jpg  
        
Chúng ta bắt đầu với vấn đề thứ nhất: dây stola có ý nghĩa gì?
        
Ý nghĩa của dây stola đã thay đổi rất nhiều trải qua dòng lịch sử: ý nghĩa của nó trong nguồn gốc  văn hoá Hy-lạp và Rôma thì khác; ý nghĩa của dây stola khi được du nhập vào phụng vụ Kitô giáo thì khác. Từ thời Trung cổ, người ta lại thêm ý nghĩa ám dụ nữa. Xét về nguồn gốc, các nhà sử học không đồng ý với nhau. Danh từ stola mới xuất hiện từ cuối thế kỷ thứ VI, và dần dần thay thế danh từ  orarium. Mỗi danh từ mang một nguồn gốc khác nhau. Danh từ stola có lẽ lúc đầu ám chỉ áo thụng của các bà quý tộc (tương đương với toga của các ông). Vì thế stola không phải là một sợi dây đeo ở cổ nhưng là một cái áo; có lẽ đó cũng là ý nghĩa của stola được nói trong sách Khải huyền (stolae albae 6,11; 7,9.14).  Bên các giáo hội Đông phương dây stola được gọi là Orarion, cũng tựa như bên Tây phương được gọi là Orarium cho đến thế kỷ IX. Thực ra Orarium cũng không phải là một cái dây, nhưng là một cái khăn đai, hay nói đúng hơn, một khăn quàng cổ. Xét về nguồn gốc trong xã hội Hy-lạp và Rôma, khăn orarium không phải là chiếc khăn quàng để che cổ cho khỏi cảm lạnh, nhưng là chiếc khăn để lau mặt hay để lau miệng (orarium bởi os, oris).
        
Như vậy, nguồn gốc dây stola là khăn chùi miệng khi ăn hay sao?
        
Không phải thế. Khi nói đến lau miệng, ta đừng vội nghĩ đến thực khách ngồi bàn ăn nhưng hãy nghĩ đến các nhà hùng biện. Họ phải diễn thuyết đến sùi bọt mép, vì thế thỉnh thoảng phải lau miệng. Dù sao, đó chỉ là một giả thuyết về nguồn gốc lịch sử mà thôi. Xét về việc sử dụng trong phụng vụ, thì bên Đông phương đã thấy nói tới trong một bản văn của công đồng Laođixêa (năm 372), dành riêng orarium cho các phó tế, chứ các tác viên thấp hơn không được đeo. Thánh Gioan Kim khẩu cũng cho biết là các phó tế đeo orarium trên vai trái. Bên Tây phương thì ta thấy quy định về orarium của các phó tế trong một bản văn của công đồng Braga ở Tây ban nha (năm 563); và một bản văn công đồng Toledo IV (năm  633) nói đến cách thức đeo orarium khác nhau giữa các phó tế và các linh mục. Các phó tế thì đeo orarium màu trắng trên vai trái, bắt chéo, và ở trên áo dalmatica. Các linh mục và giám mục thì đeo orarium quanh cổ, buông thõng xuống, nhưng mà ở dưới áo lễ.
        
Đàng sau những quy định phức tạp như vậy, người ta có giải thích ý nghĩa của việc đeo dây stola như thế nào không?
        
Tiếc rằng các bản văn pháp lý không nói. Chính vì vậy mà các sử gia mới đưa ra nhiều giả thuyết về nguồn gốc và ý nghĩa của nó. Có lẽ lúc đầu, dây orarium chỉ có ý nghĩa thực dụng, đó là lau mặt, lau mồ hôi, hoặc che cổ cho ấm. Nhưng cách riêng, vào thời Trung cổ, người ta gán cho nó nhiều ý nghĩa ám dụ cho dây stola, được hiểu không chỉ như một dây mà còn là một tấm áo nữa.
        
1/ Hiểu như sợi dây, người ta ví dây stola như sợi dây mà quân dữ đã trói buộc Chúa Giêsu trong vườn cây dầu, hoặc dây trói vào cột đá khi chịu đánh đòn. Vì thế khi đeo dây stola, linh mục hãy nhớ đến sợi dây của đức vâng lời, ràng buộc mình với Chúa Kitô, hy sinh bản thân để cứu chuộc thế giới. Dây stola đeo lên vai cũng nhắc nhở rằng linh mục hãy mang lấy ách êm ái của Chúa Giêsu, học hỏi nơi Người sự hiền lành và khiêm tốn (Mt 11,29). Những điều này được đọc thấy nơi giám mục Sicardo của giáo phận Cremona. Dần dần theo hướng đó, các nhà thần học vạch ra đủ hết các thứ nhân đức cần thiết cho linh mục và phó tế; chẳng hạn như: đức khiêm nhường (Amalariô), đức vâng lời (Rupert de Deutz), khiết tịnh (Honorius), nhẫn nại (Innocente III), can đảm (Yves de Chartres). Rabanus Maurus thì hiểu stola như là biểu hiệu của lời giảng (có lẽ ý nghĩa này lấy từ khăn orarium lau miệng): trước khi giảng thì phải chuẩn bị chu đáo. Các nhà luân lý không quên lưu ý rằng dây stola được buộc vào dây thắt lưng (tượng trưng cho sự khổ hạnh), bởi vì đừng mong tập luyện nhân đức nếu thiếu sự khổ chế. Cách riêng, khi giải thích stola  cho các phó tế (nguyên ngữ diaconos trong tiếng Hy-lạp là kẻ phục vụ) thánh Isidorus de Pelusio (+440)  nhắc đến tấm khăn mà Chúa Giêsu dùng để lau chân cho các môn đệ sau khi đã khiêm tốn rửa chân cho họ.
        
2/ Nếu hiểu như tấm áo dựa theo sách Khải huyền, thì stola là biểu hiệu cho sự thanh sạch mà các tín hữu phải khoác vào để dự tiệc cưới trên trời. Con người được dựng nên trong tình trạng nguyên tuyền; nhưng do tội nguyên tổ, chiếc áo đã trở thành nhơ bẩn. Vì thế con người cần phải tìm cách rửa sạch nó, bằng  nước mắt thống hối và nhất là nhờ quyền năng Thập giá Chúa Kitô, trong máu thánh của ngài. Ý nghĩa biểu tượng này còn được nhắc đến trong Sách lễ Rôma trước công đồng Vatican II. Khi đeo dây stola, linh mục thầm thĩ cầu xin: “Lạy Chúa, xin hoàn lại cho con stola của bất tử mà nguyên tổ đã làm mất; và tuy con không xứng  đáng đến gần nhiệm tích thánh, xin Chúa cũng ban cho con sự hoan lạc đời đời”.
        
Trong Sách lễ Rôma hiện nay không còn kinh đó nữa hay sao?
        
Vào thời Trung cổ, người ta thích chú giải Kinh thánh và các bản văn phụng vụ theo nghĩa ám dụ. Cách riêng, khi bàn về Thánh lễ, người ta giải thích như cuộc diễn tuồng Thương khó, gồm các chặng giống như đi đàng Thánh giá vậy. Việc giải thích ý nghĩa ám dụ cũng áp dụng cho phẩm phục linh mục, chẳng hạn như áo alba ám chỉ linh hồn trong trắng; dây lưng ám chỉ đức khiết tịnh, áo lễ tượng trưng cho việc vác thánh giá. Từ công đồng Vaticanô II, thần học muốn tìm hiểu ý nghĩa văn bản của Kinh thánh cũng như biểu tượng tự nhiên của các bí tích, chứ không ưa lối giải thích ám dụ, nhiều khi dựa theo óc tưởng tượng hơn là theo bản chất của sự vật. Theo tôi nghĩ, đó là lý do vì sao Sách lễ sau công đồng Vaticanô II bỏ các kinh mà linh mục đọc khi mặc phẩm phục.
        
Sách lễ hiện nay quy định thế nào về việc đeo dây stola?
        
Quy tắc Sách Lễ Rôma ấn bản năm 2000 số 340 (tương đương với số 302 ấn bản cũ) quy định như sau: “Các tư tế đeo dây stola quanh cổ và buông thõng xuống đàng trước. Các phó tế đeo dây stola trên vai trái, bắt chéo ngang ngực, và thắt lại  ở hông bên phải”. So với quy tắc trước công đồng, ta thấy có sự thay đổi không nhỏ đối với các linh mục. Trước đây (nghĩa từ sách lễ năm 1570), các linh mục đeo stola trên cổ và bắt chéo ra trước ngực như hình thánh giá; chỉ có giám mục mới buông thõng xuống, bởi vì ngài còn đeo thêm thánh giá nữa.  Chúng ta cũng cần quy chiếu với các điều khoản khác có liên quan đến phẩm phục các tác viên. Đối với các phó tế, thì số 338 nói rằng phẩm phục gồm có áo alba, stola và dalmatica; nhưng vì nhu cầu hoặc lễ thường thì có thể miễn mặc dalmatica. Còn trong thánh lễ đồng tế, thì các linh mục có thể chỉ mặc áo alba và đeo stola.
        
Các linh mục không chỉ đeo dây stola lúc dâng thánh lễ mà thôi, nhưng còn lúc cử hành các lễ nghi phụng vụ khác nữa, phải không?
        
Đúng thế. Có lẽ vì vậy mà ở Việt Nam trước đây, người ta dịch stola là “dây các phép”, nghĩa là dây đeo lúc cử hành các phép bí tích. Tuy nhiên trong trường hợp này, ta thấy stola thường là màu trắng, trừ khi giải tội và nghi thức an táng thì đổi thành màu tím. Nên biết là vào thời cổ, dây stola (cũng như orarium và pallium) luôn luôn là màu trắng; mãi đến thế kỷ XVI, mới có tục thay đổi màu dây stola cho hợp với màu áo lễ trong ngày. Ngoài ra, cũng nên ghi nhận là trong những trường hợp linh mục đeo stola mà không có áo lễ thì kích thước của nó cũng rộng hơn.
        
[Trong giáo luật, từ stola còn mang một ý nghĩa chuyên môn, hiểu về vài công tác dành riêng cho các cha sở (ius stolae), mà vết tích còn thấy ở số 530 của bộ giáo luật. Cần phải có sự thoả thuận của cha sở thì các linh mục khác mới được thi hành các nghi thức đó, thí dụ rửa tội, chứng hôn. Trong khung cảnh này, Stola tượng trưng cho quyền hành của cha sở].
        
Các giáo dân có được phép đeo stola không?
        
Tuỳ chúng ta hiểu stola theo nghĩa nào. Nếu hiểu theo nghĩa chuyên môn của phụng vụ thì duy chỉ có các giám mục, linh mục, phó tế mới đeo dây stola lúc cử hành phụng vụ. Còn nếu hiểu theo nghĩa rộng, là bất cứ đai nào cũng gọi là stola, thì chúng ta có thể nhận thấy tại vài  nơi, các chức sắc trong giáo xứ cũng đeo đai trắng bắt chéo trước ngực, có lẽ bắt chước các phó tế. Dù sao, giữa hai hình thức (nghĩa rộng và nghĩa hẹp), ta nên thêm nghĩa thứ ba nữa, đó là các nữ tu dòng Chartreux. Vào ngày thánh hiến các chị nhận lãnh một dây stola, và chiếc stola này sẽ được đặt trong hòm lúc an táng. Do một đặc ân của Toà thánh,  trong phụng vụ Giờ kinh Sách, chị  nào đọc Phúc âm thì cũng đeo stola.

Thiết tưởng nên phân biệt hai vấn đề. Thứ nhất là ý nghĩa của dây stola. Thứ hai cách thức đeo dây stola. Trong thánh lễ đồng tế, chúng ta thấy có các linh mục và các phó tế, mỗi đẳng cấp đeo dây stola một cách. Tuy nhiên, không chỉ có các linh mục và phó tế mới đeo dây stola mà thôi: các giám mục cũng đeo dây stola, và các giáo hoàng cũng thường chụp hình với dây stola màu đỏ. Đó là chưa kể một trường hợp mà rất ít người có dịp chứng kiến, đó là các nữ tu dòng Chartreux cũng đeo dây stola nữa.


Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP.

Thứ Năm, 3 tháng 4, 2014 by Unknown · 0

Tại sao gọi là Chầu Mình Thánh Chúa?

Trong số những việc đạo đức tôn kính Thánh Thể có việc chầu Mình Thánh Chúa. Tại sao gọi là Chầu Mình Thánh? Tục lệ này bắt nguồn từ đâu?

Odoration.jpg

Trong tiếng Hán-Việt, tiếng “chầu” có thể dùng như danh từ hay động từ. Dùng như danh từ, “chầu” ám chỉ một khoảng thời gian (một “buổi”, một “phiên”, một “hồi”), tựa như một chầu hát, một chầu xinê, và đôi khi còn là bữa ăn (thí dụ: đãi một chầu bia). Dùng như động từ, chầu được dùng cách trịnh trọng trong ngôn ngữ cung đình, để ám chỉ cuộc viếng thăm của người dưới đối với người trên (chẳng hạn như: đi chầu vua). Tôi nghĩ rằng khi nói đi “chầu Mình Thánh Chúa” thì chúng ta hiểu theo nghĩa này, tức là một cuộc viếng thăm với lòng cung kính. Tuy nhiên, nếu muốn hiểu rõ ý nghĩa hơn, chúng ta cần phải trở về với lịch sử, bắt nguồn từ tiếng Pháp, “salut du Saint Sacrement”, mà ta có thể dịch nôm na là “chào Mình Thánh Chúa”.

Tại sao lại có tục lệ “chào Mình Thánh Chúa”?

Theo một vài sử gia, nguồn gốc của tục lệ “chào Mình Thánh Chúa” hơi vòng vèo một chút. Nó bắt nguồn từ tục lệ “Chào Đức Mẹ”, rồi sau đó mới kéo dài ra tục “Chào Mình Thánh Chúa”. Dĩ nhiên, ở đây tiếng “chào” mang tính cách hơi chuyên môn, chứ không phải chỉ là chào hỏi khi gặp nhau ngoài đường. Từ thế kỷ XIII, các giờ kinh phụng vụ kết thúc với bài hát “Salve Regina” (trước đây dịch ra sang tiếng Việt là kinh “Lạy Nữ Vương Mẹ nhân lành”; còn bản dịch hiện đại của Sách Các Giờ kinh Phụng vụ là “Kính chào Đức Nữ Vương, Bà là Mẹ xót thương”), ở giờ Kinh Tối. Trong suốt ngày, các tín hữu mắc bận công chuyện làm ăn, cho nên không thể tham dự các giờ kinh nguyện được. Một cơ hội thuận tiện để đến nhà thờ là lúc chiều tối, khi hát kinh Salve Regina, đặc biệt là từ khi các tu viện dòng Đaminh, được cất ở giữa thành phố chứ không phải trên núi non như các đan viện cổ thời. Các tu sĩ dòng Đaminh có thói quen đi rước từ cung nguyện ra thánh đường đang khi hát kinh Salve Regina, và mở cửa cho các tín hữu đến tham dự. Tập tục này bành trướng mau lẹ, đến nỗi các vua chúa (tựa như vua thánh Louis) cũng thu xếp đến nhà thờ hát kinh chào Đức Mẹ. Bài ca này bắt đầu bằng lời “Salve Regina” (tiếng Pháp là “Salut”), với nội dung không phải chỉ là một lời chào hỏi mà còn là một lời cầu khẩn: trước khi lên giường ngủ, người tín hữu muốn ký thác cuộc đời cho Đức Mẹ, và ước mong rằng khi nhắm mắt lìa đời, họ sẽ được Mẹ trỏ Chúa Giêsu cho mình, nghĩa là được dẫn vào thiên đàng.

Bằng cách nào việc “chào Đức Mẹ” đưa tới việc “chào Mình Thánh Chúa”?

Vào thời Trung cổ, lòng sùng kính của các tín hữu đối với Đức Mẹ được biểu lộ qua việc đến tham gia kinh nguyện với các tu sĩ để hát kinh Salve Regina (Kính Chào Nữ Vương). Đồng thời cũng có một phong trào thích nhìn ngắm Mình Thánh Chúa sau khi linh mục đọc lời truyền phép. Các nhà thờ giật chuông vào lúc linh mục nâng cao Mình Thánh và Máu Thánh. Các tín hữu tuốn đến nhà thờ để thờ lạy Mình Thánh Chúa. Trong bối cảnh ấy mà nhiều thánh thi được sáng tác, bắt đầu bằng các lời chào Ave salus mundi, Ave verum Corpus (Kính chào ơn cứu độ thế gian, Kính chào Thánh Thể sinh bởi lòng Đức Trinh nữ Maria). Tuy nhiên, xét vì không thể nào kéo dài lâu việc dâng cao Mình Thánh Chúa trong Thánh lễ được, cho nên người ta mới tổ chức những buổi cầu nguyện khác, mà mục đích là để ngắm nhìn và thờ lạy Mình Thánh Chúa. Những cuộc chào kính Mình Thánh Chúa được bành trướng cách riêng sau khi thiết lập Lễ kính Mình Thánh Chúa, với nhiều thánh thi và thánh ca do thánh Tôma Aquinô đã soạn, tựa như “Lauda Sion Salvatorem” “Pange lingua gloriosi” “Adoro te”.

Phong trào “chào Đức Mẹ” và phong trào “chào Mình Thánh” xuất hiện có liên hệ gì với nhau không?

Cả hai việc sùng kính xuất hiện hầu như đồng thời, và phát triển song hành. Như đã nói, việc chào Đức Mẹ bắt đầu từ một thánh ca kết thúc các giờ kinh nguyện phụng vụ trong ngày. Thế nhưng, dần dần nhiều nơi, người ta tổ chức hát kinh chào Đức Mẹ vào ban chiều, cắt đứt khỏi các giờ kinh nguyện khác. Một cách tương tự như vậy, việc chào Mình Thánh Chúa bắt nguồn từ việc nhìn ngắm Mình Thánh Chúa vào lúc truyền phép trong Thánh lễ; nhưng dần dần được tách rời khỏi Thánh lễ, thành một hành vi phụng tự riêng. Đến một chặng kế tiếp, từ thế kỷ XVI, thì việc chào Đức Mẹ và chào Mình Thánh được chắp nối với nhau, do sáng kiến của các hội đoàn giáo dân. Có nơi thì cử hành việc chào Đức Mẹ vào các ngày trong tuần, và chào Mình Thánh vào Chúa nhật. Có nơi thì gom lại chung với nhau. Có nơi thì kết nạp cả hai với giờ kinh Chiều. Đó là nguồn gốc tục lệ chầu Mình Thánh Chúa vào các chiều Chúa nhật hoặc các buổi chiều trong tuần (khi mà chưa có Thánh lễ ban chiều). Các buổi chầu Mình Thánh kết thúc với việc ban phép lành với Mình Thánh Chúa, và bài ca kính Đức Mẹ.

Ngày nay tại vài nơi còn tổ chức những cuộc chầu Mình Thánh Chúa suốt ngày, chứ đâu phải chỉ vào chiều Chúa nhật mà thôi. Tục lệ này bắt đầu từ đâu vậy?

Với đà tiến triển của lòng sùng kính đối với bí tích Thánh Thể, việc chầu Mình Thánh Chúa tăng gia về thời gian cũng như về thể thức. Một hình thức còn duy trì đến ngày nay là việc chầu Mình Thánh Chúa được cất giữ tại bàn thờ đặc biệt từ Thánh lễ thứ năm tuần thánh cho đến phụng vụ suy tôn Thánh giá ngày thứ 6 Tuần Thánh. Vào lúc đầu, các bánh thánh được cất giữ trong một nhà tạm vì lý do thực tiễn: trong Thánh lễ thứ năm tuần thánh, người ta phải dự trù thêm số bánh thánh đủ dùng vào việc rước lễ vào ngày hôm sau nữa, bởi vì không có Thánh lễ vào thứ 6 Tuần Thánh. Dần dần, lòng đạo đức bình dân phát triển thành việc “làm Giờ thánh”, nghĩa là tháp tùng Chúa Giêsu vào vườn Cây dầu để cầu nguyện, và thậm chí còn kéo dài sang việc suy gẫm cuộc Tử nạn của Chúa Giêsu cho đến lúc chết trên thập giá. Vì thế việc chầu Mình Thánh Chúa không chỉ giới hạn vào sự thờ lạy Chúa Giêsu hiện diện trong Bí tích này, mà còn kèm theo ý nghĩa chia sẻ cuộc Tử nạn. Như đã nói, tục lệ này vẫn còn được duy trì tại nhiều nơi, từ tối thứ năm cho đến chiều thứ 6 Tuần Thánh, trong khoảng thời gian 24 giờ đồng hồ. Dĩ nhiên là không ai có sức canh thức chầu Mình Thánh trong suốt 24 giờ, vì thế các cộng đoàn giáo xứ hay tu viện chia ra từng tốp, hay nhóm thay phiên nhau để chầu Mình Thánh.

Có nơi còn chầu đến 40 giờ nữa, phải không?

Tục lệ chầu Mình Thánh 40 giờ kéo dài thời gian của thứ năm Tuần thánh. Như vừa nói, thời gian chầu Mình Thánh bắt đầu từ sau Thánh lễ tối thứ năm và kết thúc vào chiều thứ 6. Vào thế kỷ XVI, do sự thúc đẩy của thánh Carôlô Borrômêô, tổng giám mục Milanô bên Italia, một tục lệ khác thành hình, đó là chầu Mình Thánh Chúa 40 giờ. Tại sao 40 giờ? Tại vì người ta muốn đi theo Chúa Giêsu từ khi được an táng trong mồ cho đến lúc Phục sinh. Tuy nhiên việc chầu 40 giờ không gắn liền với Tuần thánh nhưng có thể được tổ chức vào bất cứ lúc nào trong năm.

Thế nào là chầu lượt?

“Chầu lượt” có thể hiểu theo nhiều nghĩa. Có thể hiểu theo nghĩa là phân chia các tốp hoặc nhóm thay phiên (hoặc lần lượt, sỉ lượt) nhau chầu Mình Thánh; điều này cần thiết khi trưng bày Mình Thánh Chúa lâu giờ (hoặc 24 giờ hay 40 giờ). Một nghĩa khác nữa là tổ chức các nhóm, hoặc tu viện hoặc giáo xứ, tuy sống cách xa nhau, nhưng họp thành một dây chuyền để chầu Mình Thánh Chúa. Sáng kiến này đã có từ năm 1592, dưới thời đức thánh cha Clêmentê VIII, với sắc chiếu Graves et diuturnae, tổ chức các buổi chầu Mình Thánh 40 giờ nối dài từ nhà thờ này sang nhà thờ khác. Nên biết là vào thời đó, nhiều Dòng tu cũng du nhập tập tục chầu Mình Thánh liên tục 24 giờ mỗi ngày, và bố trí sao cho ít là có 1 hoặc 2 thành viên luôn luôn chầu Mình Thánh Chúa. Điều này giả thiết là cộng đoàn có khá đông tu sĩ. Trước đây người ta không thấy khó khăn lắm để thực hiện, nhưng ngày nay với số ơn gọi giảm sút, ít Dòng tu dám bảo đảm chầu Mình Thánh liên tục 24 giờ trên 24. Điều này cũng xảy ra cách tương tự cho các giáo xứ. Trước đây các phiên chầu lượt kéo dài 24 giờ (hoặc hơn nữa) trước khi chuyển sang cho giáo xứ khác. Nhưng ngày nay thì nhiều giáo xứ chỉ dám bảo đảm chầu Mình Thánh vào ngày Chúa nhật, lễ trọng, chứ vào những ngày trong tuần thì đóng cửa bởi vì người ta bận công ăn việc làm. Mặt khác, dù khi nhận phiên chầu lượt, mỗi giáo xứ cũng chỉ bảo đảm hơn kém 12 giờ đồng hồ, chứ không trọn ngày. Tuy nhiên, chúng ta cũng đừng nên quên rằng sự chầu Mình Thánh liên tục không chỉ được thực hiện trong khuôn khổ của một cộng đoàn tu sĩ hay một giáo phận, nhưng còn kéo dài ra hoàn cầu, nhờ sự nối mạng với đền thờ Montmartre kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, ở ngoại ô thành phố Paris bên Pháp. Đành rằng động từ “nối mạng” mới ra đời với kỷ nguyên Internet, nhưng từ năm 1885, ý chỉ này đã nảy sinh, đó là thực hiện việc chầu Mình Thánh Chúa thường trực tại đền thờ này, nhưng đồng thời cũng liên kết với các thánh đường trên thế giới đang chầu Mình Thánh Chúa. Vì thế tuy rằng tại địa phương không thể có sự thờ lạy liên tục được, nhưng qua sự kết hiệp với đền thánh Montmartre, mỗi cộng đoàn tín hữu địa phương có thể khẳng định rằng mình đang tham gia vào một phiên, một lượt chầu Mình Thánh Chúa liên lỉ.


Lm. Giuse Phan Tấn Thành

by Unknown · 0

40 ngày mùa Chay được tính thế nào?

40 ngày mùa Chay được tính thế nào? Mùa Chay bắt đầu khi nào? Ngày cử hành Lễ Phục Sinh hàng năm được tính toán thế nào?

lent40days.jpg  
Đối với Ki-tô giáo, mọi Chúa Nhật đều là những ngày cử hành sự phục sinh của Chúa Ki-tô, các tín hữu không được ăn chay, và làm những hình thức đền tội trong các ngày này. Các Chúa Nhật không được tính vào thời gian chay tịnh mùa Chay.


H. 40 ngày mùa Chay được tính thế nào?

Thời gian mùa chay trước lễ Phục Sinh thường được gọi là 40 ngày chay tịnh, nhưng thực ra có 46 ngày tính từ thứ 4 lễ Tro cho tới Chúa Nhật Phục Sinh. Vậy tại sao chỉ nói có 40 ngày?

T. Chúng ta cần trở ngược lại thời sơ khai của Giáo Hội, các môn đệ đầu tiên là những người Do Thái vốn chịu ảnh hưởng sâu đậm về tầm quan trọng của ngày Sabat, vẫn được xem là ngày thứ 7. Bởi vì ngày Sabat được ghi trong sách Khởi Nguyên là thời gian để nghỉ ngơi và thờ phượng. Tuy nhiên Chúa Ki-tô lại phục sinh vào Chúa Nhật, ngày thứ nhất trong tuần. Chính các tông đồ và các ki-tô hữu đầu tiên đã thấy được rằng sự Phục Sinh là một cuộc sáng tạo mới nên họ chuyển ngày Sabat sang Chúa Nhật chứ không là còn là thứ 7 như quan niệm của Do Thái nữa.

Vậy để có được 40 ngày chay tịnh như Chúa Giê-su, mùa Chay bao gồm 6 tuần lễ với 6 ngày ăn chay trong tuần, cộng với 4 ngày từ thứ tư lễ Tro cho tới thứ 7 trước Chúa Nhật thứ nhất mùa Chay. 36 + 4 = 40.

H. Mùa Chay bắt đầu khi nào?

Mùa Chay được bắt đầu với thứ tư lễ Tro trước lễ Phục Sinh 46 ngày. Tuy nhiên, vì lễ Phục Sinh không được ấn định vào một ngày cố định cho mỗi năm, do vậy, phải biết cách tính lễ Phục Sinh theo Tây lịch.

H. Ngày cử hành Lễ Phục Sinh hàng năm được tính toán thế nào?

T. Lễ Phục Sinh không có một ngày cử hành nhất định hàng năm như lễ Giáng Sinh với ngày 25-12. Công đồng Nicea (325) ấn định ngày lễ Phục Sinh hàng năm là Chúa Nhật thứ nhất kể từ ngày rằm đầu tiên của tiết xuân phân. Tưởng cũng nên biết rằng lễ vượt qua của Do thái là ngày 14 tháng Nissan, tức là trước ngày trăng tròn của tiết xuân phân. Và các giáo hội Đông phương cũng lấy ngày này để mừng lễ Phục Sinh.

Để có thể tính được ngày lễ Phục Sinh hàng năm của Công Giáo, cần đi theo trình tự sau:
- ngày xuân phân hàng năm là 21-3 (theo tây lịch)
- ngày trăng tròn (ngày 15 theo âm lịch) đầu tiên sau ngày 21-3 này
- Chúa Nhật thứ nhất tính từ ngày trăng tròn này, đó là Chúa Nhật Phục Sinh.


Lm. Pr. Nguyễn Đức Thắng, GP.Long Xuyên

by Unknown · 0

Chủ Nhật, 23 tháng 3, 2014

Bà Veronica là ai?

Chúng ta nghe nói về bà Veronica với chiếc khăn thành Turin, nhất là chúng ta thấy nhắc tới bà trong chặng thứ sáu của Đàng Thánh Giá. Thế nhưng mấy ai cảm thấy “thắc mắc” về bà, cứ coi đó là “sự tin tưởng mặc định” rồi. Tìm “nát” cả bộ Kinh Thánh cũng chẳng thấy “gợi ý” nào nói về bà, vì không có đoạn nào hoặc câu nào trong Kinh Thánh nói tới tên Veronica. Bà là ai vậy?
Bà Veronica được tôn kính trong lịch sử Giáo Hội như một vị thánh nhưng không được tuyên phong theo luật Giáo Hội. Tuy nhiên, các tín hữu sùng mộ bà từ thời kỳ đầu của Giáo Hội.
Tiểu sử của bà cũng không có tài liệu lịch sử chắc chắn mà chỉ dựa trên truyền tụng. Bà là người vô danh. Có người đồng hóa bà Veronica với bà Matta (chị của Maria và Ladarô), người khác lại cho bà là vợ của ông Dakêu. Truyền thuyết khá phổ thông là đồng hóa bà Veronica với người đàn bà loạn huyết được Chúa chữa cho khỏi nhờ sự động chạm đến gấu áo Chúa (x. Mt 9:20-2; Mc 5:25-34; Lc 8:43-48).
Theo truyền thuyết, bà Veronica đã gặp Chúa Giêsu trên “Đường Thánh Giá” (Via Dolorosa). Kinh Thánh chỉ nói các phụ nữ khóc thương khi thấy Chúa Giêsu vác Thập Giá, nhưng Ngài bảo: “Hỡi chị em thành Giê-ru-sa-lem, đừng khóc thương tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu” (Lc 23:28). Khi bà Veronica lấy khăn trùm đầu để thấm máu mặt Chúa Giêsu thì hình khuôn mặt Chúa Giêsu đã in ấn trên khăn ấy. Biến cố này đã được tưởng nhớ trong chặng thứ sáu trong Đàng Thánh Giá.
Một truyền thuyết cho rằng chiếc khăn này được bà Veronica trao cho Hoàng Đế Rôma là Tiberius. Qua tấm khăn này, Chúa đã làm nhiều phép lạ cho kẻ mù được sáng, cho kẻ chết sống lại. Chính tên của bà cũng được “đặt ra” theo chữ Latin là “Vera” – nghĩa là “thật”, và tiếng Hy-lạp “Icon” – nghĩa là “hình ảnh”. Chúng ta có: Vera + Icon = Veronica.
Sau Công đồng Vatican II, Thánh Veronica không có tên trong lịch phụng vụ nhưng có truyền thống đã kính nhớ bà vào ngày 12 tháng 7, có truyền thống kính nhớ bà vào Thứ Ba “béo” ngay trước Thứ Tư Lễ Tro.
Các nhiếp ảnh gia và các thợ giặt ủi nhận Thánh Veronica làm bổn mạng. Trong Giáo Hội có một thánh cũng tên là Veronica (tên đầy đủ là Veronica Giuliani, người Ý), được in năm Dấu Thánh, được Giáo Hội phong thánh năm 1839, lễ kính ngày 10 tháng 7.
Chúng ta lại nhớ tới bà Veronica mỗi khi cầu nguyện bằng 14 chặng Đàng Thánh Giá, nhất là trong Mùa Chay và Thứ Sáu Tuần Thánh. Bà là một phụ nữ đạo đức và can đảm, dám lấy khăn thấm máu mặt một tử tội trên đường đến pháp trường. Liều thật, nếu không can đảm thì không thể hành động như vậy. Chắc hẳn bà nhận ra Tử Tội Giêsu là người công chính, một ngôn sứ, một thánh nhân, và rất có thể bà cũng biết đó là Con Thiên Chúa.
Dù bà là nhân vật thật hay không thì bà vẫn xứng đáng để chúng ta noi gương trong đời sống tâm linh vậy.
TRẦM THIÊN THU

Chủ Nhật, 23 tháng 3, 2014 by Unknown · 0

Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2014

LỊCH SỬ MÙA CHAY THÁNH

Tứ thời bát tiết Xuân, Hạ, Thu, Đông, thay đổi tuần hoàn luân vòng chuyển đổi. Niên lịch phụng vụ của Giáo Hội Công Giáo cũng nằm trong chu kỳ ấy. 

Phụng vụ Giáo Hội cũng có bốn Mùa như : Mùa Vọng, Mùa Giáng Sinh qua đi, Mùa Thường niên tiếp nối, chúng ta chuẩn bị bước vào Mùa Chay Thánh, cao điểm là Tuần Thánh và Đêm Vọng Phục Sinh. Vậy Mùa Chay có từ bao giờ, kéo dài bao lâu ? Những việc chúng ta làm trong Mùa Chay có ý nghĩa thế nào ? Mùa Chay đến rồi lại đi, chúng ta làm gì để Mùa Chay không trở nên nhàm chán và có ý nghĩa ?

Mùa Chay có từ bao giờ, kéo dài bao lâu ? 

Vào những thế kỷ đầu Kitô giáo, để sống đạo và thực hành đạo, các kitô hữu tiên khởi đã quan sát những người chung quanh xem họ sống đạo và thực hành đạo thế nào, cụ thể như việc người Dothái giữ ngày Sabát, hay lên Đền thờ cầu nguyện. Tuy các kitô hữu tiên khởi họp nhau thành một cộng đoàn tế tự, cử hành phép rửa nhân danh Cha và Con và Thánh Thần theo một công thức tuyên xưng đức tin. Nhưng khi cử hành các ngày đại lễ như lễ Vượt Qua, lễ Năm Mươi, dù vẫn giữ nguyên những ngày lễ của người Dothái nhưng lại mặc cho các ngày lễ ấy một ý nghĩa mới, chẳng hạn : khi cử hành, họ không chỉ nhắc lại các biến cố Xuất Hành Cựu Ước, mà còn tưởng nhớ cuộc khổ nạn và phục sinh của Chúa Kitô, cũng như việc Chúa Thánh Thần hiện xuống trên các Tông đồ. 

Mãi đến thế kỷ thứ IV, trong Giáo Hội mới nảy sinh những ý kiến khác nhau như : liệu có cử hành lễ Phục Sinh vào ngày lễ Vượt Qua của người Dothái không ? Tại các Giáo đoàn thuộc Tiểu Á, họ vẫn giữ nghi lễ chiên vượt qua. Riêng Giáo đoàn Antiokia lại ấn định lễ Phục Sinh vào ngày Chúa Nhật sau lễ Vượt Qua của người Dothái, trong khi đó, các kitô hữu tại Alexandria do các nhà chiêm tinh tính toán nên đã chuyển rời lễ Phục Sinh vào dịp phân xuân.

Cho dù có sự khác nhau về ngày cử hành các ngày lễ, nhưng lễ Phục Sinh vẫn là lễ chung của toàn thể cộng đoàn Kitô giáo, vì lễ Phục Sinh dựa trên nền tảng đức tin, trước lễ Phục Sinh, có một thời gian chuẩn bị tương đối dài gọi là Mùa Chay hay « 40 ngày », tưởng nhớ 40 Chúa Giêsu ở trong hoang địa 40 đêm ngày. 

Việc thực hành Mùa Chay đã có từ thời thì đầu Kitô giáo, nhưng trải qua những bước thăng trầm, mãi tới thế kỷ thứ II, thời thánh Irênê, giám mục thành Lyon, việc giữ chay ngắn hạn từ hai đến ba ngày, không ăn bất kỳ thức ăn nào mới được phổ biến. Sang kỷ thứ III tại Alexandria, người ta kéo dài việc ăn chay ra hết một tuần. Những dấu tích của Mùa Chay hay « 40 ngày » được tìm thấy ở thế kỷ thứ IV, trong lễ qui của Công Đồng Nicêa. Đây là thời gian chuẩn bị mừng lễ, nhưng ưu tiên vẫn là việc giúp các người dự tòng chuẩn bị lãnh Phép Rửa Tội và Đêm Vọng Phục Sinh. 

Cuối thế kỷ thứ IV, Giáo đoàn tại Giêrusalem bắt đầu giữ chay 40 ngày hay còn gọi là Mùa Chay 8 tuần, người ta ăn chay suốt thời gian này, trừ thứ Bẩy và Chúa Nhật. Sang thế kỷ thứ V, tại Aicập người ta cũng giữ chay, tiếp đến là xứ Gôlơ, người ta ăn chay ngày thứ Bẩy và thứ Sáu tuần trong Mùa Chay. Trong khi giữ chay, các kitô hữu chỉ ăn một bữa mỗi ngày, thức ăn gồm có bánh, rau và nước. Giữ nghiêm ngặt nhất là ngày Thứ Sáu và Thứ Bẩy Tuần Thánh, người ta không ăn một chút thức ăn nào. Giờ ăn chay được qui định tùy theo sự khác nhau của mỗi giáo đoàn. Vì mùa chay gồm 6 tuần không thể tương ứng với 40 ngày được. Nên sang thế kỷ thứ VII, người ta đã lùi về trước Mùa Chay mấy ngày, cụ thể như bắt đầu từ ngày thứ Tư cho đến ngày thứ Bẩy tuần trước khi bước vào Mùa Chay, ngày mà hôm nay chúng ta gọi là Thứ Tư Lễ Tro, ngày ăn chay. Đồng thời, ba Chúa Nhật trước Mùa chay, là gồm tóm thời gian chuẩn bị mừng lễ Phục Sinh, cách lễ Phục Sinh chín tuần. Việc giữ chay ngày càng đòi hỏi nghiêm ngặt hơn, chẳng hạn như buộc chỉ ăn bữa tối. Nhưng đến thế kỷ thứ VIII, việc giữ chay được nới rộng ra, nghĩa là cho phép những người ốm đau bệnh tật được ăn chứng, bơ, sữa, cá và cả rượu nữa. Sang thế kỷ XII và XIII, bữa ăn ngày chay được ấn định là trước giờ trưa 3 giờ tức 9 chín giờ sáng, tiếp theo được ăn « bữa ăn nhẹ » vào buổi tối. Sang thế kỷ XVII việc ăn chay giảm dần và Giáo Hội cho phép được ăn cháo, sữa và cá nhỏ. Trong ngày chay, tại các hoàng gia, nhà bếp thi nhau trổ tài làm ăn với những thực đơn sao cho dồi dào phong phú hơn ngày thường. 

Một cảnh chợ cá ngày Thứ Tư Lễ Tro

Từ năm 1949, Giáo Hội Công Giáo qui định việc giữ chay và kiêng thịt là ngày Thứ Tư lễ Tro và Thứ Sáu Tuần Thánh mà thôi. Lý do vì hai ngày đó là ngày tưởng nhớ sự chết : ngày thứ tư lễ Tro, linh mục chính thức làm phép tro được đốt từ những cành lá đã làm phép vào ngày Lễ Lá năm trước rồi vẽ hình thánh giá trên trán người nhận tro và nhắc lại rằng « ngươi là tro bụi, và người sẽ trở về tro bụi », nhắc lại cái chết của mỗi người chúng ta, tiếp đến, ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, ngày tưởng niệm cái chết của Chúa Giêsu trên Thập giá.

Trong phụng vụ của Giáo Hội Chính Thống, thời gian chuẩn bị bước vào Mùa Chay kéo dài năm tuần liền, mỗi tuần đọc một đoạn Tim Mừng riêng, với cách thức sám hối sâu xa. Tuần thứ bốn, được ấn định là ngày kiên thịt và ăn chay trong toàn Giáo Hội. Chúa Nhật thứ năm được gọi là Chúa Nhật Hòa giải, mỗi người hòa giải với người bên cạnh trước khi toàn thể cộng đoàn xin lỗi Chúa.

Cảm tưởng chung là một bầu không khí « vui và buồn ». Mỗi tín hữu, với sự hiểu biết có giới hạn và khác nhau về phụng vụ, nên khi bước vào nhà thờ với các kinh nguyện của Mùa Chay, mỗi người mỗi cảm tưởng khác nhau. Một phần vì những lời kinh tiếng hát mang đậm nét buồn, màu áo tím, những bài đọc dài hơn, đơn điệu hơn ngày thường, và hầu như không có nét vui tươi. Một nét đẹp nội tâm rực sáng, tựa như ánh sáng ban mai chiếu rọi từ thung lũng tối tăm lên tận đỉnh cao của núi đồi.

Niềm vui âm thầm, êm dịu và toàn bộ các bài Sách thánh trong Mùa Chay nghe thật đơn điệu cho thấy sự bình an đã dẫn đưa người ta tới những điệp ca hòa tấu Allêluia trong Đêm Vọng Phục Sinh. 

Chúa Nhật lễ Lá là thời gian không còn dành riêng cho việc tưởng niệm cuộc khổ nạn nữa, bước vào một Tuần Thánh, với những bài đọc nhắc lại những ngày sau hết của Chúa Kitô trên trần gian và sự Phục Sinh của Ngài.

Tại sao lại gọi là 40 ngày chay thánh ? 

Từ « Mùa Chay » là một từ tương phản với từ gốc latinh là « quadragesima » có nghĩa là 40. Trong Kinh thánh, con số 40 có ý diễn tả một khoảng thời gian chờ đợi, một quá trình, tượng trưng cho việc chuẩn bị gặp gỡ Thiên Chúa. Số 40 còn diễn tả hành trình trong sa mạc trên đường về Đất hứa của Dân Dothái kéo dài 40 năm. Ông Môisen đã ở trên núi Chúa 40 ngày (x. Xh 24,18; 34,28). Những người trinh sát đã ở trong vùng đấy 40 ngày (x. Ds 13, 25). Elia đã đi 40 ngày trước khi tới được hang ở đó Ngài được thị kiến (x. 1V 19,8). Ninivê đã được cho 40 ngày để sám hối (x. Gn 3,4). Và quan trọng nhất là Chúa Giêsu được Chúa Thánh Thần thúc đẩy vào trong hoang địa 40 ngày để ăn chay cầu nguyện trước khi thi hành sứ vụ công khai (x. Mt 4,2).

Như vậy Mùa Chay là mùa nhắc nhớ 40 năm hành trình trong sa mạc của dân Dothái, 40 ngày trong hoang địa của Chúa Giêsu. Con số 40 ngày, là thời gian đi vào hoang địa của cõi lòng, thinh lặng để chuẩn bị gặp gỡ Chúa. Đây là thời gian phụng vụ cao điểm thuân tiện thích hợp cho các kitô hữu noi gương Đức Kitô dùng 40 ngày để ăn năn đền tội và dấn thân phục vụ anh chị em. Và bằng 40 ngày long trọng của Mùa Chay, mỗi người được liên kết mật thiết hơn với các Mầu Nhiệm của Chúa Giêsu, Đấng đang tiến đến cái chết và sự sống lại.

Mùa chay mang lại cho chúng ta điều gì?

Phần lớn người kitô hữu không thực hành việc ăn chay, nguyện ngắm, nên Mùa Chay không có ảnh hưởng tới đời sống của họ là bao? Khi nói về Mùa Chay, người ta thường hiểu một cách không tích cực lắm. Đại đa số dân chúng cho rằng trong Mùa Chay việc kiêng ăn, kiêng uống giữ chay chiếm vị trí hàng đầu.

Tuy nhiên điều đáng lưu ý là đại đa số người kitô hữu không thực hành đạo trong đời sống nhưng họ vẫn đến nhận tro vào Thứ Tư Lễ Tro. Đây là một nghi thức giầu tính biểu tượng, nó tác động đến tận đáy lòng con người, nhắc nhớ người ta suy nghĩ về thân phận của mình khi nhận tro và mời gọi con người trở về với Chúa. Vì nhiều khi con người quên đi thân phận yếu hèn, mỏng giòn của mình, dẫn đến đau thương và đổ vỡ. Bi kịch cuộc đời con người đều từ đó mà ra. Con người phạm tội, tội cắt đứt sự hiệp thông giữa con người với Thiên Chúa, làm cho con người mất đi hạnh phúc, phải đau khổ và phải chết. Chuyện sa ngã của Nguyên tổ đã chứng minh điều đó. Lịch sử cứ độ của Dân Chúa, tội thì Chúa phạt, hối cải thì Chúa tha và cứu. Nên mỗi khi lâm vào hoàn cảnh bi đát đau thương hay thất vọng, Dân Chúa đều nhận ra rằng cần phải sám hối trở về giao hòa với Thiên Chúa để được chữa lành. Mùa Chay là mùa sám hỗi, chúng ta hãy ra sức làm những việc cần thiết để được giao hòa và hiệp thông với Chúa, hầu được Chúa ban ơn.

Trong đời sống người kitô hữu, nhiều khi lắng nghe lời Chúa xong, chúng ta đã có quyết tâm đi xưng tội, làm việc đền tội, nhưng rồi kết quả không mấy khả quan, thì Mùa Chay là cơ hội rất thuận lợi. Thư thánh Phaolô nói với chúng ta : « Đây là lúc thuận tiện, đây là ngày cứu độ» (2 Cr 6,2). Đây là thời gian khẩn trương trong năm phụng vụ, thời gian thuận tiện được ban cho chúng ta để đẩy mạnh quyết tâm hoán cải, tăng cường việc lắng nghe Lời Chúa, cầu nguyện, thống hối, mở rộng tâm hồn đón nhận thánh ý Chúa, thực hành khổ chế một cách quảng đại hơn, để đi tới và giúp đỡ tha nhân đang túng thiếu: đó là một hành trình tinh thần giúp chúng ta chuẩn bị sống Mầu Nhiệm Phục Sinh. Vậy chúng ta hãy tin tưởng điều đó và bước vào Mùa Chay Thánh.


Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2014 by Unknown · 0

Thứ Hai, 10 tháng 6, 2013

TỤC RƯỚC LỄ TRONG TAY CÓ TỪ HỒI NÀO?

Phan Tấn Thành
Từ mấy năm nay, tại Việt Nam đã có nhiều nơi linh mục trao Mình Thánh Chúa vào tay các tín hữu để họ rước lễ lấy, chứ không đưa thẳng vào lưỡi nữa. Tại sao có sự thay đổi đó? Tục lệ này bắt nguồn từ đâu?
Nhiều điều thay đổi trong phụng vụ sau công đồng Vaticanô II xem ra mới mẻ và táo bạo nhưng thực sự rất là cổ xưa. Thí dụ như việc cử hành phụng vụ bằng tiếng bản quốc đã có ngay từ ban đầu, chứ không phải là mới lạ. Trong bữa Tiệc ly, khi thiết lập bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu không dùng tiếng La-tinh nhưng dùng tiếng bản xứ Aramaic. Trong các thế kỷ đầu tiên, ngay tại thủ đô Rôma, phụng vụ được cử hành bằng tiếng Hy-lạp chứ không phải bằng tiếng La-tinh. Việc trao Mình Thánh Chúa vào tay thay vì vào lưỡi của các tín hữu cũng như vậy. Thoạt tiên xem ra là một cuộc cách mạng của những năm sau công đồng, nhưng kỳ thực nó đã có từ lâu đời rồi. Vì vậy, đây không phải là điều canh tân cho bằng khôi phục. Chúng ta hãy đi lùi lại lịch sử thì sẽ thấy.
Trong bữa tiệc ly, các thánh tông đồ rước lễ trên lưỡi hay trên tay?
Có thể chắc tới 90 phần trăm là trong bữa tiệc ly, các thánh tông đồ đã rước lễ trên tay. Tôi chỉ nói tới 90 phần trăm chứ không dám chắc 100 phần trăm, bởi vì các trình thuật về việc thiết lập bí tích Thánh Thể mà chúng ta đọc trong Phúc âm nhất lãm và ở chương 11 của thư thứ nhất gửi Côrintô không còn phải là những ký sự tường thuật theo lối văn lịch sử nữa nhưng là những truyền thống cử hành phụng vụ. Nói cách khác, theo các nhà chú giải Kinh thánh, các thánh sử không phải là những ký giả muốn tường thuật tỉ mỉ chi tiết buổi thiết lập bí tích Thánh Thể, cho bằng là những chứng nhân của những buổi cử hành bí tích này tại các cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi. Dù sao đi nữa, Chúa Giêsu đã thiết lập bí tích Thánh Thể trong khung cảnh của một bữa tiệc thánh, tức là bữa tiệc mà người Do thái cử hành lễ Vượt qua. Các tông đồ ngồi quanh bàn ăn, chuyền cho nhau tấm bánh và chén rượu chúc tụng. Các thế hệ Kitô hữu đầu tiên cử hành Thánh Thể trong khung cảnh của bữa tiệc Agapê, theo kiểu của cộng đoàn Côrintô mà chúng ta có thể đọc thấy ở chương 11 của thư thứ 1 thánh Phaolô gửi cho họ. Cũng qua bản văn đó mà ta thấy có những lạm dụng cần phải bài trừ.
Đối với thánh Phaolô, gương mù nặng nề hơn cả không phải ở tại chỗ chè chén say sưa khiến cho các tín hữu không còn phân biệt giữa tiệc thánh với tiệc phàm, nhưng ở chỗ lỗi đức bái ái thương yêu. Lý do là tại vì khi đi dự tiệc, người giàu mang theo đồ ăn cao lương mỹ vị và chỉ chung bàn với những ai cùng giai cấp với mình, chứ chẳng màng tới sự chia sẻ với người nghèo. Thế thì còn đâu là bữa tiệc Agapê nữa? Có lẽ tại vì những lạm dụng đáng tiếc như vậy, cho nên dần dần việc cử hành Thánh Thể được tách rời hoàn toàn ra khỏi bữa tiệc Agapê. Dĩ nhiên, bao lâu mà Thánh Thể được cử hành trong khung cảnh của bữa tiệc thì chuyện rước lễ trong tay hay trên lưỡi không được đặt ra. Thế còn đến khi Thánh Thể đã được tách rời ra khỏi bàn tiệc thì sao? Các sử gia cho rằng các tín hữu vẫn còn tiếp tục lãnh bánh thánh trên tay. Nói đúng ra, những chứng tích của các thế kỷ đầu tiên không có nhiều cho lắm. Chúng ta có thể đan cử một đoạn trích từ tác phẩm De idolatria (cap.6) của văn hào Tertullianô (cuối thế kỷ II sang đầu thế kỷ III). Ông Tertullianô vốn có tiếng là nghiêm khắc, và ông đòi chặt tay những tín hữu nào sau khi đã chạm tới Mình Thánh Chúa mà còn đi dâng hương tế thần. Chắc là chị không đồng ý với Tertullianô về hình phạt này; nhưng ít là qua đó chúng ta thấy rằng các tín hữu thời đó đã rước Mình Thánh Chúa trong tay.
Nếu các chứng tích của các thế kỷ đầu tiên về việc rước lễ trong tay rất hiếm, thì phải kết luận rằng tục lệ này không được phổ thông cho lắm, có đúng không?
Nếu chỉ dừng lại ở chặng này mà thôi thì quả đúng như vậy. Nhưng nếu ta đặt nó trong bối cảnh lịch sử rộng hơn thì phải kết luận ngược lại. Như đã nói ở đầu, bởi vì từ thời các thánh tông đồ, việc rước lễ trong tay rất thường, cho nên không cần phải nói dài dòng làm chi. Có lẽ đó là lý do vì sao mà có ít bút tích. Đặc biệt là sang thế kỷ IV và V, nghĩa là sau khi đã chấm dứt thời kỳ bắt đạo và công việc tổ chức đời sống đạo được dễ dàng hơn, thì ta thấy có rất nhiều chứng tích về việc rước lễ trong tay. Phần lớn những tài liệu này nằm trong các sách huấn giáo dành cho các dự tòng hay cho các tân tòng. Các giáo phụ dạy cho họ biết cách thức tham dự vào phụng vụ, và giải thích ý nghĩa của các lễ nghi cử điệu. Chúng ta hãy nghe một đoạn văn trích từ sách huấn giáo của thánh Cyrillô ở Giêrusalem (315-386), viết vào thế kỷ IV. Ngài viết như sau:
Khi tiến gần tới bàn thánh, bạn đừng xòe tay ra trước mặt, nhưng bạn hãy dùng bàn tay trái làm ngai cho bàn tay phải để đón rước Đức Vua. Bạn hãy lãnh Mình Thánh Chúa trong lòng bàn tay, và đáp: “Amen”. Sau khi đã chăm chú thánh hóa cặp mắt của bạn bằng việc tiếp xúc với Mình Thánh Chúa, bạn hãy chịu lấy Thánh thể, và cẩn thận đừng để rơi rớt gì hết, bởi vì nếu mất tí nào thì như thể là bạn bị chặt mất phần thân thể của mình vậy. Giả như có ai biếu bạn một tí bụi vàng, hẳn là bạn sẽ giữ gìn hết sức để khỏi bị hư hao thiệt thòi. Thế thì sao bạn lại chẳng cẩn thận hơn nữa để khỏi rơi rớt mảnh vụn của kho tàng quý báu hơn vàng bạc trân châu gấp trăm lần ư?
Qua đoạn văn đó, không những chúng ta thấy chứng tích của một tục lệ rước lễ trong tay, mà còn cả chứng tích về tâm tình tôn kính đối với Mình Thánh Chúa. Thánh Cyrillô lưu ý đến lòng tin yêu sốt sắng khi tuyên xưng đức tin “Amen” cũng như đến việc cẩn thận để khỏi rơi các mảnh vụn.
Nhưng đó chỉ là một chứng tích mà thôi chứ đâu phải là một tục lệ phổ thông?
Trong các thế kỷ IV-V, chúng ta còn đọc thấy nhiều chứng tích khác nữa, chẳng hạn của thánh Ambrôsiô, Augustinô, Gioan Kim khẩu, Têôđôrô Mopsuesta. Các vị giám mục này một đàng để ý đến giáo huấn tâm tình đức tin, đàng khác không bỏ qua những chi tiết thực tiễn, thí dụ như thánh Augustinô khuyên các tín hữu hãy đi rửa tay cho sạch sẽ, và cũng đừng quên rửa linh hồn cho thanh sạch.
Từ lúc nào tục rước lễ trong tay được thay thế bằng việc rước lễ trên lưỡi?
Sự chuyển hướng diễn ra chậm chạp. Từ thế kỷ VI, bên Pháp các phụ nữ phải đặt một tấm khăn trên tay khi rước Mình Thánh Chúa. Sang thế kỷ IX đã có những công đồng địa phương bắt đầu du nhập việc rước lễ trên lưỡi. Qua thế kỷ X, thì chỉ các linh mục và phó tế mới được cầm Mình Thánh Chúa và rước lễ trong tay; tất cả các tín hữu khác phải rước lễ trên lưỡi. Tại sao có sự chuyển hướng như vậy? Các sử gia đưa ra nhiều giả thuyết để cắt nghĩa. Thứ nhất, có lẽ vì có những lạm dụng, nghĩa là những người lãnh Mình Thánh nhưng không rước lễ ngay mà lại đem đi chỗ khác, dùng vào chuyện ma thuật. Thứ hai, bởi vì hình bánh đã thay đổi. Xưa kia là bánh lớn như bánh thường ngày; giờ đây, bánh nhỏ bằng đồng tiền, có thể đưa thẳng vào miệng. Thứ ba, việc cử hành Thánh Thể được coi như là độc quyền của các vị tư tế. Duy các linh mục mới có quyền đi vào nơi cực thánh để tế lễ, còn các giáo dân đứng xa xa, đâu dám bén mảng tới gần bàn thờ.
Còn ngày nay, bởi vì những lý do đó không còn tồn tại nữa, cho nên các tín hữu lại được lãnh Mình Thánh trong tay, có phải như vậy không?
Thực khó mà quả quyết rằng các tín hữu thời nay đạo đức hơn hay thua các tín hữu thời Trung cổ, cũng chẳng ai dám quyết rằng các lạm dụng sẽ không còn xảy ra nữa. Tuy nhiên, dựa theo ước nguyện của công đồng Vaticanô II mong muốn cho các tín hữu tham gia phụng vụ cách tích cực và ý thức, các Giám mục đã yêu cầu xét lại các bản kinh cũng như các cử chỉ dùng trong phụng vụ, trong số đó có cả việc rước lễ trên lưỡi hay trong tay. Đành rằng chân lý căn bản phải duy trì là chúng ta đi rước Mình Thánh Chúa, chứ không phải đi lãnh cục kẹo. Và chúng ta cần phải nuôi dưỡng tâm tình tin kính mến yêu khi tiến gần bàn thánh. Hiểu như vậy, cử chỉ đặt trên lưỡi hay trao vào lòng tay là chuyện thứ yếu. Dù vậy, những cử chỉ thứ yếu cũng có ý nghĩa riêng của nó. Khi đứa con còn nhỏ, cha mẹ đút lương thực vào miệng (điều này cũng còn diễn ra trong trường hợp bệnh nhân liệt giường). Đến khi đứa con khôn lớn rồi, cha mẹ phân phát lương thực cho chúng và chúng tự ăn lấy. Chắc có người sẽ kết luận rằng từ nay các giáo dân đã trưởng thành rồi cho nên không cần các linh mục mớm cho nữa. Tuy nhiên, chúng ta hãy đi xa hơn chút nữa. Việc chúng ta chìa tay ra nhận Mình Thánh Chúa không phải chỉ là cử chỉ đón nhận lương thực mà còn tượng trưng cho cử chỉ đón tiếp Chúa Kitô vào trong đời ta, tựa như khi ta bắt tay người nào, hay khi mở rộng bàn tay để ôm choàng người thân. Tiếc rằng trong cuộc tiếp xúc xã giao hàng ngày, bao nhiêu cái bắt tay đã trở thành khách sáo chẳng còn ý nghĩa chi nữa! Dù sao, điều quan trọng khi du nhập một cách thức mới trong việc rước lễ là sự huấn giáo về ý nghĩa của cử chỉ. Kế đó là huấn giáo về cách thức. Tiên vàn, cần phải rửa tay sạch sẽ cũng như rửa linh hồn sạch tội. Kế đó, khi đến gần linh mục, tín hữu dang hai bàn tay ra trước mặt như cử chỉ đón tiếp; bàn tay phải đặt ở dưới bàn tay trái. Linh mục đọc: “Mình Thánh Chúa Kitô”, và trao Mình Thánh vào lòng bàn tay. Tín hữu tuyên xưng “Amen”, và cung kính lãnh Mình Thánh; kế đó dạt ra một bên, dùng tay phải để rước Chúa. Ngoài ra cần phải nhấn mạnh rằng các tín hữu có quyền được rước Mình Thánh Chúa trên lưỡi, chứ không bắt buộc phải lãnh Mình Chúa trong tay. Nếu ở đâu, tín hữu được rước Mình Thánh chấm trong Máu Thánh, thì việc chịu lễ trên lưỡi là điều bắt buộc.
 CỎ ĐUÔI GÀ sưu tầm từ: http://daminhvn.net/tai-lieu/hieu-de-song-duc-tin/6083-tuc-ruoc-le-trong-tay-co-tu-hoi-nao.html

Thứ Hai, 10 tháng 6, 2013 by Unknown · 0


Copyright © 2013. Cỏ Đuôi Gà - 0932.034.777
Design by Cỏ Đuôi Gà™
Điện thoại hỗ trợ: 0932.034.777 - Email: jacbao.pham@gmail.com