Thứ Hai, 21 tháng 4, 2014
Hỏi: Một người đã làm linh nục giả trong nhiều năm ở một Tiểu bang kia trước khi bi khám phá. Như vậy những bí tích mà “ linh mục giả” này làm trong bao năm ở giáo xứ kia có thành hay không?
|
Thứ Hai, 21 tháng 4, 2014 by Unknown · 0
Thứ Năm, 3 tháng 4, 2014
Trong thánh lễ đồng tế, các linh mục đeo dây stola buông thõng xuống, còn các phó tế thì đeo dây stola bắt chéo từ vai bên trái sang hông bên phải. Tại sao vậy? Dây stola có ý nghĩa gì?
|
Chúng ta bắt đầu với vấn đề thứ nhất: dây stola có ý nghĩa gì?
Ý nghĩa của dây stola đã thay đổi rất nhiều trải qua dòng lịch sử: ý nghĩa của nó trong nguồn gốc văn hoá Hy-lạp và Rôma thì khác; ý nghĩa của dây stola khi được du nhập vào phụng vụ Kitô giáo thì khác. Từ thời Trung cổ, người ta lại thêm ý nghĩa ám dụ nữa. Xét về nguồn gốc, các nhà sử học không đồng ý với nhau. Danh từ stola mới xuất hiện từ cuối thế kỷ thứ VI, và dần dần thay thế danh từ orarium. Mỗi danh từ mang một nguồn gốc khác nhau. Danh từ stola có lẽ lúc đầu ám chỉ áo thụng của các bà quý tộc (tương đương với toga của các ông). Vì thế stola không phải là một sợi dây đeo ở cổ nhưng là một cái áo; có lẽ đó cũng là ý nghĩa của stola được nói trong sách Khải huyền (stolae albae 6,11; 7,9.14). Bên các giáo hội Đông phương dây stola được gọi là Orarion, cũng tựa như bên Tây phương được gọi là Orarium cho đến thế kỷ IX. Thực ra Orarium cũng không phải là một cái dây, nhưng là một cái khăn đai, hay nói đúng hơn, một khăn quàng cổ. Xét về nguồn gốc trong xã hội Hy-lạp và Rôma, khăn orarium không phải là chiếc khăn quàng để che cổ cho khỏi cảm lạnh, nhưng là chiếc khăn để lau mặt hay để lau miệng (orarium bởi os, oris).
Như vậy, nguồn gốc dây stola là khăn chùi miệng khi ăn hay sao?
Không phải thế. Khi nói đến lau miệng, ta đừng vội nghĩ đến thực khách ngồi bàn ăn nhưng hãy nghĩ đến các nhà hùng biện. Họ phải diễn thuyết đến sùi bọt mép, vì thế thỉnh thoảng phải lau miệng. Dù sao, đó chỉ là một giả thuyết về nguồn gốc lịch sử mà thôi. Xét về việc sử dụng trong phụng vụ, thì bên Đông phương đã thấy nói tới trong một bản văn của công đồng Laođixêa (năm 372), dành riêng orarium cho các phó tế, chứ các tác viên thấp hơn không được đeo. Thánh Gioan Kim khẩu cũng cho biết là các phó tế đeo orarium trên vai trái. Bên Tây phương thì ta thấy quy định về orarium của các phó tế trong một bản văn của công đồng Braga ở Tây ban nha (năm 563); và một bản văn công đồng Toledo IV (năm 633) nói đến cách thức đeo orarium khác nhau giữa các phó tế và các linh mục. Các phó tế thì đeo orarium màu trắng trên vai trái, bắt chéo, và ở trên áo dalmatica. Các linh mục và giám mục thì đeo orarium quanh cổ, buông thõng xuống, nhưng mà ở dưới áo lễ.
Đàng sau những quy định phức tạp như vậy, người ta có giải thích ý nghĩa của việc đeo dây stola như thế nào không?
Tiếc rằng các bản văn pháp lý không nói. Chính vì vậy mà các sử gia mới đưa ra nhiều giả thuyết về nguồn gốc và ý nghĩa của nó. Có lẽ lúc đầu, dây orarium chỉ có ý nghĩa thực dụng, đó là lau mặt, lau mồ hôi, hoặc che cổ cho ấm. Nhưng cách riêng, vào thời Trung cổ, người ta gán cho nó nhiều ý nghĩa ám dụ cho dây stola, được hiểu không chỉ như một dây mà còn là một tấm áo nữa.
1/ Hiểu như sợi dây, người ta ví dây stola như sợi dây mà quân dữ đã trói buộc Chúa Giêsu trong vườn cây dầu, hoặc dây trói vào cột đá khi chịu đánh đòn. Vì thế khi đeo dây stola, linh mục hãy nhớ đến sợi dây của đức vâng lời, ràng buộc mình với Chúa Kitô, hy sinh bản thân để cứu chuộc thế giới. Dây stola đeo lên vai cũng nhắc nhở rằng linh mục hãy mang lấy ách êm ái của Chúa Giêsu, học hỏi nơi Người sự hiền lành và khiêm tốn (Mt 11,29). Những điều này được đọc thấy nơi giám mục Sicardo của giáo phận
2/ Nếu hiểu như tấm áo dựa theo sách Khải huyền, thì stola là biểu hiệu cho sự thanh sạch mà các tín hữu phải khoác vào để dự tiệc cưới trên trời. Con người được dựng nên trong tình trạng nguyên tuyền; nhưng do tội nguyên tổ, chiếc áo đã trở thành nhơ bẩn. Vì thế con người cần phải tìm cách rửa sạch nó, bằng nước mắt thống hối và nhất là nhờ quyền năng Thập giá Chúa Kitô, trong máu thánh của ngài. Ý nghĩa biểu tượng này còn được nhắc đến trong Sách lễ Rôma trước công đồng Vatican II. Khi đeo dây stola, linh mục thầm thĩ cầu xin: “Lạy Chúa, xin hoàn lại cho con stola của bất tử mà nguyên tổ đã làm mất; và tuy con không xứng đáng đến gần nhiệm tích thánh, xin Chúa cũng ban cho con sự hoan lạc đời đời”.
Trong Sách lễ Rôma hiện nay không còn kinh đó nữa hay sao?
Vào thời Trung cổ, người ta thích chú giải Kinh thánh và các bản văn phụng vụ theo nghĩa ám dụ. Cách riêng, khi bàn về Thánh lễ, người ta giải thích như cuộc diễn tuồng Thương khó, gồm các chặng giống như đi đàng Thánh giá vậy. Việc giải thích ý nghĩa ám dụ cũng áp dụng cho phẩm phục linh mục, chẳng hạn như áo alba ám chỉ linh hồn trong trắng; dây lưng ám chỉ đức khiết tịnh, áo lễ tượng trưng cho việc vác thánh giá. Từ công đồng Vaticanô II, thần học muốn tìm hiểu ý nghĩa văn bản của Kinh thánh cũng như biểu tượng tự nhiên của các bí tích, chứ không ưa lối giải thích ám dụ, nhiều khi dựa theo óc tưởng tượng hơn là theo bản chất của sự vật. Theo tôi nghĩ, đó là lý do vì sao Sách lễ sau công đồng Vaticanô II bỏ các kinh mà linh mục đọc khi mặc phẩm phục.
Sách lễ hiện nay quy định thế nào về việc đeo dây stola?
Quy tắc Sách Lễ Rôma ấn bản năm 2000 số 340 (tương đương với số 302 ấn bản cũ) quy định như sau: “Các tư tế đeo dây stola quanh cổ và buông thõng xuống đàng trước. Các phó tế đeo dây stola trên vai trái, bắt chéo ngang ngực, và thắt lại ở hông bên phải”. So với quy tắc trước công đồng, ta thấy có sự thay đổi không nhỏ đối với các linh mục. Trước đây (nghĩa từ sách lễ năm 1570), các linh mục đeo stola trên cổ và bắt chéo ra trước ngực như hình thánh giá; chỉ có giám mục mới buông thõng xuống, bởi vì ngài còn đeo thêm thánh giá nữa. Chúng ta cũng cần quy chiếu với các điều khoản khác có liên quan đến phẩm phục các tác viên. Đối với các phó tế, thì số 338 nói rằng phẩm phục gồm có áo alba, stola và dalmatica; nhưng vì nhu cầu hoặc lễ thường thì có thể miễn mặc dalmatica. Còn trong thánh lễ đồng tế, thì các linh mục có thể chỉ mặc áo alba và đeo stola.
Các linh mục không chỉ đeo dây stola lúc dâng thánh lễ mà thôi, nhưng còn lúc cử hành các lễ nghi phụng vụ khác nữa, phải không?
Đúng thế. Có lẽ vì vậy mà ở Việt
[Trong giáo luật, từ stola còn mang một ý nghĩa chuyên môn, hiểu về vài công tác dành riêng cho các cha sở (ius stolae), mà vết tích còn thấy ở số 530 của bộ giáo luật. Cần phải có sự thoả thuận của cha sở thì các linh mục khác mới được thi hành các nghi thức đó, thí dụ rửa tội, chứng hôn. Trong khung cảnh này, Stola tượng trưng cho quyền hành của cha sở].
Các giáo dân có được phép đeo stola không?
Tuỳ chúng ta hiểu stola theo nghĩa nào. Nếu hiểu theo nghĩa chuyên môn của phụng vụ thì duy chỉ có các giám mục, linh mục, phó tế mới đeo dây stola lúc cử hành phụng vụ. Còn nếu hiểu theo nghĩa rộng, là bất cứ đai nào cũng gọi là stola, thì chúng ta có thể nhận thấy tại vài nơi, các chức sắc trong giáo xứ cũng đeo đai trắng bắt chéo trước ngực, có lẽ bắt chước các phó tế. Dù sao, giữa hai hình thức (nghĩa rộng và nghĩa hẹp), ta nên thêm nghĩa thứ ba nữa, đó là các nữ tu dòng Chartreux. Vào ngày thánh hiến các chị nhận lãnh một dây stola, và chiếc stola này sẽ được đặt trong hòm lúc an táng. Do một đặc ân của Toà thánh, trong phụng vụ Giờ kinh Sách, chị nào đọc Phúc âm thì cũng đeo stola.
Thứ Năm, 3 tháng 4, 2014 by Unknown · 0
Trong số những việc đạo đức tôn kính Thánh Thể có việc chầu Mình Thánh Chúa. Tại sao gọi là Chầu Mình Thánh? Tục lệ này bắt nguồn từ đâu?

Trong tiếng Hán-Việt, tiếng “chầu” có thể dùng như danh từ hay động từ. Dùng như danh từ, “chầu” ám chỉ một khoảng thời gian (một “buổi”, một “phiên”, một “hồi”), tựa như một chầu hát, một chầu xinê, và đôi khi còn là bữa ăn (thí dụ: đãi một chầu bia). Dùng như động từ, chầu được dùng cách trịnh trọng trong ngôn ngữ cung đình, để ám chỉ cuộc viếng thăm của người dưới đối với người trên (chẳng hạn như: đi chầu vua). Tôi nghĩ rằng khi nói đi “chầu Mình Thánh Chúa” thì chúng ta hiểu theo nghĩa này, tức là một cuộc viếng thăm với lòng cung kính. Tuy nhiên, nếu muốn hiểu rõ ý nghĩa hơn, chúng ta cần phải trở về với lịch sử, bắt nguồn từ tiếng Pháp, “salut du Saint Sacrement”, mà ta có thể dịch nôm na là “chào Mình Thánh Chúa”.
Tại sao lại có tục lệ “chào Mình Thánh Chúa”?
Theo một vài sử gia, nguồn gốc của tục lệ “chào Mình Thánh Chúa” hơi vòng vèo một chút. Nó bắt nguồn từ tục lệ “Chào Đức Mẹ”, rồi sau đó mới kéo dài ra tục “Chào Mình Thánh Chúa”. Dĩ nhiên, ở đây tiếng “chào” mang tính cách hơi chuyên môn, chứ không phải chỉ là chào hỏi khi gặp nhau ngoài đường. Từ thế kỷ XIII, các giờ kinh phụng vụ kết thúc với bài hát “Salve Regina” (trước đây dịch ra sang tiếng Việt là kinh “Lạy Nữ Vương Mẹ nhân lành”; còn bản dịch hiện đại của Sách Các Giờ kinh Phụng vụ là “Kính chào Đức Nữ Vương, Bà là Mẹ xót thương”), ở giờ Kinh Tối. Trong suốt ngày, các tín hữu mắc bận công chuyện làm ăn, cho nên không thể tham dự các giờ kinh nguyện được. Một cơ hội thuận tiện để đến nhà thờ là lúc chiều tối, khi hát kinh Salve Regina, đặc biệt là từ khi các tu viện dòng Đaminh, được cất ở giữa thành phố chứ không phải trên núi non như các đan viện cổ thời. Các tu sĩ dòng Đaminh có thói quen đi rước từ cung nguyện ra thánh đường đang khi hát kinh Salve Regina, và mở cửa cho các tín hữu đến tham dự. Tập tục này bành trướng mau lẹ, đến nỗi các vua chúa (tựa như vua thánh Louis) cũng thu xếp đến nhà thờ hát kinh chào Đức Mẹ. Bài ca này bắt đầu bằng lời “Salve Regina” (tiếng Pháp là “Salut”), với nội dung không phải chỉ là một lời chào hỏi mà còn là một lời cầu khẩn: trước khi lên giường ngủ, người tín hữu muốn ký thác cuộc đời cho Đức Mẹ, và ước mong rằng khi nhắm mắt lìa đời, họ sẽ được Mẹ trỏ Chúa Giêsu cho mình, nghĩa là được dẫn vào thiên đàng.
Bằng cách nào việc “chào Đức Mẹ” đưa tới việc “chào Mình Thánh Chúa”?
Vào thời Trung cổ, lòng sùng kính của các tín hữu đối với Đức Mẹ được biểu lộ qua việc đến tham gia kinh nguyện với các tu sĩ để hát kinh Salve Regina (Kính Chào Nữ Vương). Đồng thời cũng có một phong trào thích nhìn ngắm Mình Thánh Chúa sau khi linh mục đọc lời truyền phép. Các nhà thờ giật chuông vào lúc linh mục nâng cao Mình Thánh và Máu Thánh. Các tín hữu tuốn đến nhà thờ để thờ lạy Mình Thánh Chúa. Trong bối cảnh ấy mà nhiều thánh thi được sáng tác, bắt đầu bằng các lời chào Ave salus mundi, Ave verum Corpus (Kính chào ơn cứu độ thế gian, Kính chào Thánh Thể sinh bởi lòng Đức Trinh nữ Maria). Tuy nhiên, xét vì không thể nào kéo dài lâu việc dâng cao Mình Thánh Chúa trong Thánh lễ được, cho nên người ta mới tổ chức những buổi cầu nguyện khác, mà mục đích là để ngắm nhìn và thờ lạy Mình Thánh Chúa. Những cuộc chào kính Mình Thánh Chúa được bành trướng cách riêng sau khi thiết lập Lễ kính Mình Thánh Chúa, với nhiều thánh thi và thánh ca do thánh Tôma Aquinô đã soạn, tựa như “Lauda Sion Salvatorem” “Pange lingua gloriosi” “Adoro te”.
Phong trào “chào Đức Mẹ” và phong trào “chào Mình Thánh” xuất hiện có liên hệ gì với nhau không?
Cả hai việc sùng kính xuất hiện hầu như đồng thời, và phát triển song hành. Như đã nói, việc chào Đức Mẹ bắt đầu từ một thánh ca kết thúc các giờ kinh nguyện phụng vụ trong ngày. Thế nhưng, dần dần nhiều nơi, người ta tổ chức hát kinh chào Đức Mẹ vào ban chiều, cắt đứt khỏi các giờ kinh nguyện khác. Một cách tương tự như vậy, việc chào Mình Thánh Chúa bắt nguồn từ việc nhìn ngắm Mình Thánh Chúa vào lúc truyền phép trong Thánh lễ; nhưng dần dần được tách rời khỏi Thánh lễ, thành một hành vi phụng tự riêng. Đến một chặng kế tiếp, từ thế kỷ XVI, thì việc chào Đức Mẹ và chào Mình Thánh được chắp nối với nhau, do sáng kiến của các hội đoàn giáo dân. Có nơi thì cử hành việc chào Đức Mẹ vào các ngày trong tuần, và chào Mình Thánh vào Chúa nhật. Có nơi thì gom lại chung với nhau. Có nơi thì kết nạp cả hai với giờ kinh Chiều. Đó là nguồn gốc tục lệ chầu Mình Thánh Chúa vào các chiều Chúa nhật hoặc các buổi chiều trong tuần (khi mà chưa có Thánh lễ ban chiều). Các buổi chầu Mình Thánh kết thúc với việc ban phép lành với Mình Thánh Chúa, và bài ca kính Đức Mẹ.
Ngày nay tại vài nơi còn tổ chức những cuộc chầu Mình Thánh Chúa suốt ngày, chứ đâu phải chỉ vào chiều Chúa nhật mà thôi. Tục lệ này bắt đầu từ đâu vậy?
Với đà tiến triển của lòng sùng kính đối với bí tích Thánh Thể, việc chầu Mình Thánh Chúa tăng gia về thời gian cũng như về thể thức. Một hình thức còn duy trì đến ngày nay là việc chầu Mình Thánh Chúa được cất giữ tại bàn thờ đặc biệt từ Thánh lễ thứ năm tuần thánh cho đến phụng vụ suy tôn Thánh giá ngày thứ 6 Tuần Thánh. Vào lúc đầu, các bánh thánh được cất giữ trong một nhà tạm vì lý do thực tiễn: trong Thánh lễ thứ năm tuần thánh, người ta phải dự trù thêm số bánh thánh đủ dùng vào việc rước lễ vào ngày hôm sau nữa, bởi vì không có Thánh lễ vào thứ 6 Tuần Thánh. Dần dần, lòng đạo đức bình dân phát triển thành việc “làm Giờ thánh”, nghĩa là tháp tùng Chúa Giêsu vào vườn Cây dầu để cầu nguyện, và thậm chí còn kéo dài sang việc suy gẫm cuộc Tử nạn của Chúa Giêsu cho đến lúc chết trên thập giá. Vì thế việc chầu Mình Thánh Chúa không chỉ giới hạn vào sự thờ lạy Chúa Giêsu hiện diện trong Bí tích này, mà còn kèm theo ý nghĩa chia sẻ cuộc Tử nạn. Như đã nói, tục lệ này vẫn còn được duy trì tại nhiều nơi, từ tối thứ năm cho đến chiều thứ 6 Tuần Thánh, trong khoảng thời gian 24 giờ đồng hồ. Dĩ nhiên là không ai có sức canh thức chầu Mình Thánh trong suốt 24 giờ, vì thế các cộng đoàn giáo xứ hay tu viện chia ra từng tốp, hay nhóm thay phiên nhau để chầu Mình Thánh.
Có nơi còn chầu đến 40 giờ nữa, phải không?
Tục lệ chầu Mình Thánh 40 giờ kéo dài thời gian của thứ năm Tuần thánh. Như vừa nói, thời gian chầu Mình Thánh bắt đầu từ sau Thánh lễ tối thứ năm và kết thúc vào chiều thứ 6. Vào thế kỷ XVI, do sự thúc đẩy của thánh Carôlô Borrômêô, tổng giám mục Milanô bên Italia, một tục lệ khác thành hình, đó là chầu Mình Thánh Chúa 40 giờ. Tại sao 40 giờ? Tại vì người ta muốn đi theo Chúa Giêsu từ khi được an táng trong mồ cho đến lúc Phục sinh. Tuy nhiên việc chầu 40 giờ không gắn liền với Tuần thánh nhưng có thể được tổ chức vào bất cứ lúc nào trong năm.
Thế nào là chầu lượt?
“Chầu lượt” có thể hiểu theo nhiều nghĩa. Có thể hiểu theo nghĩa là phân chia các tốp hoặc nhóm thay phiên (hoặc lần lượt, sỉ lượt) nhau chầu Mình Thánh; điều này cần thiết khi trưng bày Mình Thánh Chúa lâu giờ (hoặc 24 giờ hay 40 giờ). Một nghĩa khác nữa là tổ chức các nhóm, hoặc tu viện hoặc giáo xứ, tuy sống cách xa nhau, nhưng họp thành một dây chuyền để chầu Mình Thánh Chúa. Sáng kiến này đã có từ năm 1592, dưới thời đức thánh cha Clêmentê VIII, với sắc chiếu Graves et diuturnae, tổ chức các buổi chầu Mình Thánh 40 giờ nối dài từ nhà thờ này sang nhà thờ khác. Nên biết là vào thời đó, nhiều Dòng tu cũng du nhập tập tục chầu Mình Thánh liên tục 24 giờ mỗi ngày, và bố trí sao cho ít là có 1 hoặc 2 thành viên luôn luôn chầu Mình Thánh Chúa. Điều này giả thiết là cộng đoàn có khá đông tu sĩ. Trước đây người ta không thấy khó khăn lắm để thực hiện, nhưng ngày nay với số ơn gọi giảm sút, ít Dòng tu dám bảo đảm chầu Mình Thánh liên tục 24 giờ trên 24. Điều này cũng xảy ra cách tương tự cho các giáo xứ. Trước đây các phiên chầu lượt kéo dài 24 giờ (hoặc hơn nữa) trước khi chuyển sang cho giáo xứ khác. Nhưng ngày nay thì nhiều giáo xứ chỉ dám bảo đảm chầu Mình Thánh vào ngày Chúa nhật, lễ trọng, chứ vào những ngày trong tuần thì đóng cửa bởi vì người ta bận công ăn việc làm. Mặt khác, dù khi nhận phiên chầu lượt, mỗi giáo xứ cũng chỉ bảo đảm hơn kém 12 giờ đồng hồ, chứ không trọn ngày. Tuy nhiên, chúng ta cũng đừng nên quên rằng sự chầu Mình Thánh liên tục không chỉ được thực hiện trong khuôn khổ của một cộng đoàn tu sĩ hay một giáo phận, nhưng còn kéo dài ra hoàn cầu, nhờ sự nối mạng với đền thờ Montmartre kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, ở ngoại ô thành phố Paris bên Pháp. Đành rằng động từ “nối mạng” mới ra đời với kỷ nguyên Internet, nhưng từ năm 1885, ý chỉ này đã nảy sinh, đó là thực hiện việc chầu Mình Thánh Chúa thường trực tại đền thờ này, nhưng đồng thời cũng liên kết với các thánh đường trên thế giới đang chầu Mình Thánh Chúa. Vì thế tuy rằng tại địa phương không thể có sự thờ lạy liên tục được, nhưng qua sự kết hiệp với đền thánh Montmartre, mỗi cộng đoàn tín hữu địa phương có thể khẳng định rằng mình đang tham gia vào một phiên, một lượt chầu Mình Thánh Chúa liên lỉ.
Lm. Giuse Phan Tấn Thành
by Unknown · 0
40 ngày mùa Chay được tính thế nào? Mùa Chay bắt đầu khi nào? Ngày cử hành Lễ Phục Sinh hàng năm được tính toán thế nào?
|
by Unknown · 0
Chủ Nhật, 23 tháng 3, 2014
Chúng ta nghe nói về bà Veronica với chiếc khăn thành Turin, nhất là chúng ta thấy nhắc tới bà trong chặng thứ sáu của Đàng Thánh Giá. Thế nhưng mấy ai cảm thấy “thắc mắc” về bà, cứ coi đó là “sự tin tưởng mặc định” rồi. Tìm “nát” cả bộ Kinh Thánh cũng chẳng thấy “gợi ý” nào nói về bà, vì không có đoạn nào hoặc câu nào trong Kinh Thánh nói tới tên Veronica. Bà là ai vậy?Bà Veronica được tôn kính trong lịch sử Giáo Hội như một vị thánh nhưng không được tuyên phong theo luật Giáo Hội. Tuy nhiên, các tín hữu sùng mộ bà từ thời kỳ đầu của Giáo Hội.
Tiểu sử của bà cũng không có tài liệu lịch sử chắc chắn mà chỉ dựa trên truyền tụng. Bà là người vô danh. Có người đồng hóa bà Veronica với bà Matta (chị của Maria và Ladarô), người khác lại cho bà là vợ của ông Dakêu. Truyền thuyết khá phổ thông là đồng hóa bà Veronica với người đàn bà loạn huyết được Chúa chữa cho khỏi nhờ sự động chạm đến gấu áo Chúa (x. Mt 9:20-2; Mc 5:25-34; Lc 8:43-48).
Theo truyền thuyết, bà Veronica đã gặp Chúa Giêsu trên “Đường Thánh Giá” (Via Dolorosa). Kinh Thánh chỉ nói các phụ nữ khóc thương khi thấy Chúa Giêsu vác Thập Giá, nhưng Ngài bảo: “Hỡi chị em thành Giê-ru-sa-lem, đừng khóc thương tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu” (Lc 23:28). Khi bà Veronica lấy khăn trùm đầu để thấm máu mặt Chúa Giêsu thì hình khuôn mặt Chúa Giêsu đã in ấn trên khăn ấy. Biến cố này đã được tưởng nhớ trong chặng thứ sáu trong Đàng Thánh Giá.
Một truyền thuyết cho rằng chiếc khăn này được bà Veronica trao cho Hoàng Đế Rôma là Tiberius. Qua tấm khăn này, Chúa đã làm nhiều phép lạ cho kẻ mù được sáng, cho kẻ chết sống lại. Chính tên của bà cũng được “đặt ra” theo chữ Latin là “Vera” – nghĩa là “thật”, và tiếng Hy-lạp “Icon” – nghĩa là “hình ảnh”. Chúng ta có: Vera + Icon = Veronica.
Sau Công đồng Vatican II, Thánh Veronica không có tên trong lịch phụng vụ nhưng có truyền thống đã kính nhớ bà vào ngày 12 tháng 7, có truyền thống kính nhớ bà vào Thứ Ba “béo” ngay trước Thứ Tư Lễ Tro.
Các nhiếp ảnh gia và các thợ giặt ủi nhận Thánh Veronica làm bổn mạng. Trong Giáo Hội có một thánh cũng tên là Veronica (tên đầy đủ là Veronica Giuliani, người Ý), được in năm Dấu Thánh, được Giáo Hội phong thánh năm 1839, lễ kính ngày 10 tháng 7.
Chúng ta lại nhớ tới bà Veronica mỗi khi cầu nguyện bằng 14 chặng Đàng Thánh Giá, nhất là trong Mùa Chay và Thứ Sáu Tuần Thánh. Bà là một phụ nữ đạo đức và can đảm, dám lấy khăn thấm máu mặt một tử tội trên đường đến pháp trường. Liều thật, nếu không can đảm thì không thể hành động như vậy. Chắc hẳn bà nhận ra Tử Tội Giêsu là người công chính, một ngôn sứ, một thánh nhân, và rất có thể bà cũng biết đó là Con Thiên Chúa.
Dù bà là nhân vật thật hay không thì bà vẫn xứng đáng để chúng ta noi gương trong đời sống tâm linh vậy.
TRẦM THIÊN THU
Chủ Nhật, 23 tháng 3, 2014 by Unknown · 0
Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2014
Phụng vụ Giáo Hội cũng có bốn Mùa như : Mùa Vọng, Mùa Giáng Sinh qua đi, Mùa Thường niên tiếp nối, chúng ta chuẩn bị bước vào Mùa Chay Thánh, cao điểm là Tuần Thánh và Đêm Vọng Phục Sinh. Vậy Mùa Chay có từ bao giờ, kéo dài bao lâu ? Những việc chúng ta làm trong Mùa Chay có ý nghĩa thế nào ? Mùa Chay đến rồi lại đi, chúng ta làm gì để Mùa Chay không trở nên nhàm chán và có ý nghĩa ?
Mùa Chay có từ bao giờ, kéo dài bao lâu ?
Vào những thế kỷ đầu Kitô giáo, để sống đạo và thực hành đạo, các kitô hữu tiên khởi đã quan sát những người chung quanh xem họ sống đạo và thực hành đạo thế nào, cụ thể như việc người Dothái giữ ngày Sabát, hay lên Đền thờ cầu nguyện. Tuy các kitô hữu tiên khởi họp nhau thành một cộng đoàn tế tự, cử hành phép rửa nhân danh Cha và Con và Thánh Thần theo một công thức tuyên xưng đức tin. Nhưng khi cử hành các ngày đại lễ như lễ Vượt Qua, lễ Năm Mươi, dù vẫn giữ nguyên những ngày lễ của người Dothái nhưng lại mặc cho các ngày lễ ấy một ý nghĩa mới, chẳng hạn : khi cử hành, họ không chỉ nhắc lại các biến cố Xuất Hành Cựu Ước, mà còn tưởng nhớ cuộc khổ nạn và phục sinh của Chúa Kitô, cũng như việc Chúa Thánh Thần hiện xuống trên các Tông đồ.
Mãi đến thế kỷ thứ IV, trong Giáo Hội mới nảy sinh những ý kiến khác nhau như : liệu có cử hành lễ Phục Sinh vào ngày lễ Vượt Qua của người Dothái không ? Tại các Giáo đoàn thuộc Tiểu Á, họ vẫn giữ nghi lễ chiên vượt qua. Riêng Giáo đoàn Antiokia lại ấn định lễ Phục Sinh vào ngày Chúa Nhật sau lễ Vượt Qua của người Dothái, trong khi đó, các kitô hữu tại Alexandria do các nhà chiêm tinh tính toán nên đã chuyển rời lễ Phục Sinh vào dịp phân xuân.
Cho dù có sự khác nhau về ngày cử hành các ngày lễ, nhưng lễ Phục Sinh vẫn là lễ chung của toàn thể cộng đoàn Kitô giáo, vì lễ Phục Sinh dựa trên nền tảng đức tin, trước lễ Phục Sinh, có một thời gian chuẩn bị tương đối dài gọi là Mùa Chay hay « 40 ngày », tưởng nhớ 40 Chúa Giêsu ở trong hoang địa 40 đêm ngày.
Việc thực hành Mùa Chay đã có từ thời thì đầu Kitô giáo, nhưng trải qua những bước thăng trầm, mãi tới thế kỷ thứ II, thời thánh Irênê, giám mục thành Lyon, việc giữ chay ngắn hạn từ hai đến ba ngày, không ăn bất kỳ thức ăn nào mới được phổ biến. Sang kỷ thứ III tại Alexandria, người ta kéo dài việc ăn chay ra hết một tuần. Những dấu tích của Mùa Chay hay « 40 ngày » được tìm thấy ở thế kỷ thứ IV, trong lễ qui của Công Đồng Nicêa. Đây là thời gian chuẩn bị mừng lễ, nhưng ưu tiên vẫn là việc giúp các người dự tòng chuẩn bị lãnh Phép Rửa Tội và Đêm Vọng Phục Sinh.
Cuối thế kỷ thứ IV, Giáo đoàn tại Giêrusalem bắt đầu giữ chay 40 ngày hay còn gọi là Mùa Chay 8 tuần, người ta ăn chay suốt thời gian này, trừ thứ Bẩy và Chúa Nhật. Sang thế kỷ thứ V, tại Aicập người ta cũng giữ chay, tiếp đến là xứ Gôlơ, người ta ăn chay ngày thứ Bẩy và thứ Sáu tuần trong Mùa Chay. Trong khi giữ chay, các kitô hữu chỉ ăn một bữa mỗi ngày, thức ăn gồm có bánh, rau và nước. Giữ nghiêm ngặt nhất là ngày Thứ Sáu và Thứ Bẩy Tuần Thánh, người ta không ăn một chút thức ăn nào. Giờ ăn chay được qui định tùy theo sự khác nhau của mỗi giáo đoàn. Vì mùa chay gồm 6 tuần không thể tương ứng với 40 ngày được. Nên sang thế kỷ thứ VII, người ta đã lùi về trước Mùa Chay mấy ngày, cụ thể như bắt đầu từ ngày thứ Tư cho đến ngày thứ Bẩy tuần trước khi bước vào Mùa Chay, ngày mà hôm nay chúng ta gọi là Thứ Tư Lễ Tro, ngày ăn chay. Đồng thời, ba Chúa Nhật trước Mùa chay, là gồm tóm thời gian chuẩn bị mừng lễ Phục Sinh, cách lễ Phục Sinh chín tuần. Việc giữ chay ngày càng đòi hỏi nghiêm ngặt hơn, chẳng hạn như buộc chỉ ăn bữa tối. Nhưng đến thế kỷ thứ VIII, việc giữ chay được nới rộng ra, nghĩa là cho phép những người ốm đau bệnh tật được ăn chứng, bơ, sữa, cá và cả rượu nữa. Sang thế kỷ XII và XIII, bữa ăn ngày chay được ấn định là trước giờ trưa 3 giờ tức 9 chín giờ sáng, tiếp theo được ăn « bữa ăn nhẹ » vào buổi tối. Sang thế kỷ XVII việc ăn chay giảm dần và Giáo Hội cho phép được ăn cháo, sữa và cá nhỏ. Trong ngày chay, tại các hoàng gia, nhà bếp thi nhau trổ tài làm ăn với những thực đơn sao cho dồi dào phong phú hơn ngày thường.
Một cảnh chợ cá ngày Thứ Tư Lễ Tro
Từ năm 1949, Giáo Hội Công Giáo qui định việc giữ chay và kiêng thịt là ngày Thứ Tư lễ Tro và Thứ Sáu Tuần Thánh mà thôi. Lý do vì hai ngày đó là ngày tưởng nhớ sự chết : ngày thứ tư lễ Tro, linh mục chính thức làm phép tro được đốt từ những cành lá đã làm phép vào ngày Lễ Lá năm trước rồi vẽ hình thánh giá trên trán người nhận tro và nhắc lại rằng « ngươi là tro bụi, và người sẽ trở về tro bụi », nhắc lại cái chết của mỗi người chúng ta, tiếp đến, ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, ngày tưởng niệm cái chết của Chúa Giêsu trên Thập giá.
Trong phụng vụ của Giáo Hội Chính Thống, thời gian chuẩn bị bước vào Mùa Chay kéo dài năm tuần liền, mỗi tuần đọc một đoạn Tim Mừng riêng, với cách thức sám hối sâu xa. Tuần thứ bốn, được ấn định là ngày kiên thịt và ăn chay trong toàn Giáo Hội. Chúa Nhật thứ năm được gọi là Chúa Nhật Hòa giải, mỗi người hòa giải với người bên cạnh trước khi toàn thể cộng đoàn xin lỗi Chúa.
Cảm tưởng chung là một bầu không khí « vui và buồn ». Mỗi tín hữu, với sự hiểu biết có giới hạn và khác nhau về phụng vụ, nên khi bước vào nhà thờ với các kinh nguyện của Mùa Chay, mỗi người mỗi cảm tưởng khác nhau. Một phần vì những lời kinh tiếng hát mang đậm nét buồn, màu áo tím, những bài đọc dài hơn, đơn điệu hơn ngày thường, và hầu như không có nét vui tươi. Một nét đẹp nội tâm rực sáng, tựa như ánh sáng ban mai chiếu rọi từ thung lũng tối tăm lên tận đỉnh cao của núi đồi.
Niềm vui âm thầm, êm dịu và toàn bộ các bài Sách thánh trong Mùa Chay nghe thật đơn điệu cho thấy sự bình an đã dẫn đưa người ta tới những điệp ca hòa tấu Allêluia trong Đêm Vọng Phục Sinh.
Chúa Nhật lễ Lá là thời gian không còn dành riêng cho việc tưởng niệm cuộc khổ nạn nữa, bước vào một Tuần Thánh, với những bài đọc nhắc lại những ngày sau hết của Chúa Kitô trên trần gian và sự Phục Sinh của Ngài.
Tại sao lại gọi là 40 ngày chay thánh ?
Từ « Mùa Chay » là một từ tương phản với từ gốc latinh là « quadragesima » có nghĩa là 40. Trong Kinh thánh, con số 40 có ý diễn tả một khoảng thời gian chờ đợi, một quá trình, tượng trưng cho việc chuẩn bị gặp gỡ Thiên Chúa. Số 40 còn diễn tả hành trình trong sa mạc trên đường về Đất hứa của Dân Dothái kéo dài 40 năm. Ông Môisen đã ở trên núi Chúa 40 ngày (x. Xh 24,18; 34,28). Những người trinh sát đã ở trong vùng đấy 40 ngày (x. Ds 13, 25). Elia đã đi 40 ngày trước khi tới được hang ở đó Ngài được thị kiến (x. 1V 19,8). Ninivê đã được cho 40 ngày để sám hối (x. Gn 3,4). Và quan trọng nhất là Chúa Giêsu được Chúa Thánh Thần thúc đẩy vào trong hoang địa 40 ngày để ăn chay cầu nguyện trước khi thi hành sứ vụ công khai (x. Mt 4,2).
Như vậy Mùa Chay là mùa nhắc nhớ 40 năm hành trình trong sa mạc của dân Dothái, 40 ngày trong hoang địa của Chúa Giêsu. Con số 40 ngày, là thời gian đi vào hoang địa của cõi lòng, thinh lặng để chuẩn bị gặp gỡ Chúa. Đây là thời gian phụng vụ cao điểm thuân tiện thích hợp cho các kitô hữu noi gương Đức Kitô dùng 40 ngày để ăn năn đền tội và dấn thân phục vụ anh chị em. Và bằng 40 ngày long trọng của Mùa Chay, mỗi người được liên kết mật thiết hơn với các Mầu Nhiệm của Chúa Giêsu, Đấng đang tiến đến cái chết và sự sống lại.
Mùa chay mang lại cho chúng ta điều gì?
Phần lớn người kitô hữu không thực hành việc ăn chay, nguyện ngắm, nên Mùa Chay không có ảnh hưởng tới đời sống của họ là bao? Khi nói về Mùa Chay, người ta thường hiểu một cách không tích cực lắm. Đại đa số dân chúng cho rằng trong Mùa Chay việc kiêng ăn, kiêng uống giữ chay chiếm vị trí hàng đầu.
Tuy nhiên điều đáng lưu ý là đại đa số người kitô hữu không thực hành đạo trong đời sống nhưng họ vẫn đến nhận tro vào Thứ Tư Lễ Tro. Đây là một nghi thức giầu tính biểu tượng, nó tác động đến tận đáy lòng con người, nhắc nhớ người ta suy nghĩ về thân phận của mình khi nhận tro và mời gọi con người trở về với Chúa. Vì nhiều khi con người quên đi thân phận yếu hèn, mỏng giòn của mình, dẫn đến đau thương và đổ vỡ. Bi kịch cuộc đời con người đều từ đó mà ra. Con người phạm tội, tội cắt đứt sự hiệp thông giữa con người với Thiên Chúa, làm cho con người mất đi hạnh phúc, phải đau khổ và phải chết. Chuyện sa ngã của Nguyên tổ đã chứng minh điều đó. Lịch sử cứ độ của Dân Chúa, tội thì Chúa phạt, hối cải thì Chúa tha và cứu. Nên mỗi khi lâm vào hoàn cảnh bi đát đau thương hay thất vọng, Dân Chúa đều nhận ra rằng cần phải sám hối trở về giao hòa với Thiên Chúa để được chữa lành. Mùa Chay là mùa sám hỗi, chúng ta hãy ra sức làm những việc cần thiết để được giao hòa và hiệp thông với Chúa, hầu được Chúa ban ơn.
Trong đời sống người kitô hữu, nhiều khi lắng nghe lời Chúa xong, chúng ta đã có quyết tâm đi xưng tội, làm việc đền tội, nhưng rồi kết quả không mấy khả quan, thì Mùa Chay là cơ hội rất thuận lợi. Thư thánh Phaolô nói với chúng ta : « Đây là lúc thuận tiện, đây là ngày cứu độ» (2 Cr 6,2). Đây là thời gian khẩn trương trong năm phụng vụ, thời gian thuận tiện được ban cho chúng ta để đẩy mạnh quyết tâm hoán cải, tăng cường việc lắng nghe Lời Chúa, cầu nguyện, thống hối, mở rộng tâm hồn đón nhận thánh ý Chúa, thực hành khổ chế một cách quảng đại hơn, để đi tới và giúp đỡ tha nhân đang túng thiếu: đó là một hành trình tinh thần giúp chúng ta chuẩn bị sống Mầu Nhiệm Phục Sinh. Vậy chúng ta hãy tin tưởng điều đó và bước vào Mùa Chay Thánh.
Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2014 by Unknown · 0
Thứ Hai, 10 tháng 6, 2013
Thứ Hai, 10 tháng 6, 2013 by Unknown · 0