Hiển thị các bài đăng có nhãn SUY NIỆM-PHỤNG VỤ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn SUY NIỆM-PHỤNG VỤ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 7 tháng 4, 2014

Tô màu Đường Thập Giá


Triết gia Joseph Ernest Renan (1823-1892) đã nhận định: “Không thể hiểu hết lịch sử nếu không có Đức Kitô”. Một lời nhận xét tinh tế rất tuyệt vời!

Hồi nhỏ tôi không thích mùa Chay. Vì Mùa Chay có nghĩa là tôi phải từ bỏ những thỏi sô-cô-la và những miếng thịt ngon. Vì Mùa Chay có nghĩa là tôi phải cố gắng sống tốt để có thể tô màu con đường lởm chởm đá dẫn tới Can-vê mà giáo viên đưa ra khi học giáo lý. Mỗi viên đá tượng trưng một việc tốt, một lời cầu nguyện và một việc hy sinh. Một số trẻ em vừa đọc 40 kinh Kính Mừng vừa tô màu. Tôi không thích như vậy.

Mùa Chay có nghĩa là chúng tôi được các sơ cho sắp hàng từ trường học rồi đi đến nhà thờ để đi Đàng Thánh Giá, xưng tội, hoặc tập hát. Mùa Chay có nghĩa là có thể đi thăm bạn bè, rồi cả nhà cùng quỳ gối khi lần chuỗi Mân Côi. Tôi cũng muốn tham dự với họ dù gia đình tôi đã đọc kinh xong.

Nếu chúng tôi đi thăm bạn bè, mỗi ngày chúng tôi phải đọc ba, bốn hoặc năm chuỗi Mân Côi. Tôi cân nhắc những việc hy sinh này, kể cả việc cầu nguyện, và tô màu hai viên đá để... có thể đi con đường tắt dẫn tới Thánh Giá, nhưng con đường tới Can-vê lại là con đường dài...

Gần cuối mùa cầu nguyện và hy sinh là một chuyến đi mua sắm chuẩn bị mừng Lễ Phục Sinh. Chị tôi và tôi rút tiền, mỗi lần khoảng 15 USD. Chúng tôi mua những chiếc áo sơ mi mới... Màu hồng của chị Ann, màu xanh của tôi... Giày trắng bóng loáng, vớ mới, nón trắng mới với dải băng hoa, cái ví nhỏ và bao tay trắng. Chúng tôi không được phép mặc những thứ đó trước Lễ Phục Sinh nhưng chúng tôi làm mẫu những thứ đo cho bất kỳ ai tới thăm.

Mẹ tôi luôn nhắc nhở tôi rằng Mùa Chay là Thời Gian Thánh, tôi nên suy niệm về Cuộc Khổ Nạn của Đức Giêsu Kitô, nhưng trí óc tôi lại luôn nghĩ tới chiếc mũ Phục Sinh mà tôi sẽ được đội ngày hôm đó.

Tôi cứ như vậy suốt vài năm cho tới khi giáo xứ chúng tôi có cha sở mới. Linh mục này là Đức ông. Ngài nói với chúng tôi rằng ngài là bạn đăc biệt của Đức giáo hoàng. Chúng tôi ấn tượng lắm. Ngài là người to lớn, có giọng nói trầm, và có tài về kịch. Chặng Thánh Giá thứ nhất của tôi với ngài đã thay đổi Mùa Chay đối với tôi. Ngài lặng lẽ cầu nguyện ở chặng thứ nhất với cộng đoàn.

Các chặng Đàng Thánh Giá trong ngôi nhà nguyện nhỏ của chúng tôi là những hình ảnh Chúa Giêsu trên đường tới Đồi Can-vê. Tôi đã nhìn các hình ảnh đó nhiều năm nhưng tôi chẳng thấy gì khác. Năm nay, cha sở hướng dẫn cầu nguyện khi đi Đàng Thánh Giá rất sâu lắng, rất cảm động. Khi cha sở di chuyển từ chặng này tới chặng kia, tôi đã thấy Đức Kitô sống động. Tôi thấy Chúa ngã xuống đất. Tôi thấy nước mắt chảy ra từ đôi mắt của Đức Mẹ. Tôi không cô đơn giữa đường đời. Trong những bi kịch của cuộc đời, tôi luôn có Chúa Giêsu và Đức Mẹ đồng hành.

Chúa Giêsu bị đánh đập, mệt mỏi, kiệt sức,… nhưng Ngài vẫn không ngừng đấu tranh cho chúng ta!

Kết thúc buổi đi Đàng Thánh Giá, mọi người ra về lặng lẽ, cõi lòng ai cũng trĩu nặng, hình ảnh Đức Kitô tròn đầy,... Chúa Giêsu bị chúng ta phản bội, Ngài chịu nỗi cô đơn dữ dội trong cơn hấp hối. Chúng ta hãy xin Ngài ban thêm nghị lực sống để đi hết Đàng Thánh Giá của cuộc đời mình.

Thứ Sáu Tuần Thánh, khi chủ tế đọc bài Thương Khó, lòng tôi thực sự đau buồn như thể tôi đang có người thân chịu đau khổ mà tôi không thể giúp gì được!

Rồi tới Chúa Nhật Đại Lễ Phục Sinh, tôi đến nhà thờ với gia đình. Tôi cảm thấy rất vui mừng. Nắng chiếu với nét sáng chói mới lạ, những bông hoa loa kèn nhìn trắng hơn năm ngoái, lá cũng xanh hơn. Tôi không thể nhớ tôi đã mặc gì với chiếc nón mới trong ngày quan trọng đó. Tôi biết đó là lần đầu tiên tôi lên đường tới Can-vê đã được tô màu cho tôi và tôi thực sự vui mừng. Tạ ơn Chúa!

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Beliefnet.com)

Thứ Hai, 7 tháng 4, 2014 by Unknown · 0

CHIÊM NGẮM DUNG NHAN CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ TRONG CUỘC THƯƠNG KHÓ

CHÚA NHẬT LỄ LÁ NĂM A (13/04/2014)
[Is 50,4-7; Pl 2,6-11; Mt 26,14 - 27,66]

I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ
Nếu 4 Sách Phúc Âm đều có Bài Tường Thuật về cuộc Thương Khó của Chúa Giê-su thì Bài Tường Thuật về cuộc Thương Khó trong Tin Mừng Mát-thêu (26,14 - 27,66) là Bài Tường Thuật đầy đủ và gây xúc cảm nhất. Vì thế mà Giáo Hội cho chúng ta đọc Bài Tường Thuật ấy ngay đầu Tuần Thánh. Với tâm tình kính tôn, yêu mến và cảm tạ chúng ta hãy chiêm ngắm dung nhan tuyệt đẹp của Con Thiên Chúa làm người và chịu đau khổ để cứu chuộc chúng ta và toàn thể nhân loại.
II. LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH
2.1 Lắng nghe Lời Chúa trong bài đọc 1 (Is 50, 4-7): Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ, tôi biết mình sẽ không phải thẹn thùng.
4 Đức Chúa là Chúa Thượng đã cho tôi nói năng như một người môn đệ, để tôi biết lựa lời nâng đỡ ai rã rời kiệt sức. Sáng sáng Người đánh thức, Người đánh thức tôi để tôi lắng tai nghe như một người môn đệ. 5 Đức Chúa là Chúa Thượng đã mở tai tôi, còn tôi, tôi không cưỡng lại, cũng chẳng tháo lui. 6 Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu. Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ.  7 Có Đức Chúa là Chúa Thượng phù trợ tôi, vì thế, tôi đã không hổ thẹn, vì thế, tôi trơ mặt ra như đá. Tôi biết mình sẽ không phải thẹn thùng.
 
2.2 Lắng nghe Lời Chúa trong bài đọc 2 (Pl 2, 6-11): Đức Ki-tô đã tự khiêm tự hạ, nên Thiên Chúa đã siêu tôn Người.
6 Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, 7 nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. 8 Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.
9 Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu.10 Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giê-su, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ;  11 và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: "Đức Giê-su Ki-tô là Chúa".
2.3 Lắng nghe Lời Chúa trong bài Tin Mừng (Mt 26,14 - 27,66): Cuộc Thương Khó của Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta (Xin đọc trong Sách Thánh Kinh).
III. KHÁM PHÁ DUNG NHAN CỦA CHÚA GIÊ-SU VÀ SỨ ĐIỆP CỦA BÀI THƯƠNG KHÓ TRONG TIN MỪNG MÁT-THÊU.
3.1 Dung Nhan Chúa Giê-su trong Bài Thương Khó Mt 26,14 – 27,66 có những nét đáng chúng ta ghi nhận trong tâm trí, như sau:
- Một là Chúa Giê-su là Đấng Mê-si-a bị bán rẻ cho kẻ thù, bởi một trong mười hai môn đệ là Giu-đa Ít-ca-ri-ốt. Tại sao Giu-đa lại bán Thày mình lấy một số tiền còm như thế? Có người cho rằng vì hắn tham tiền! Có người cho rằng không phải là vì Giu-đa tham tiền mà vì ý đồ chính trị. Có người cho rằng vì Giu-đa vừa tham tiền vừa có ý đồ chính trị. Ý đồ chính trị làm động cơ cho việc Giu-đa bán Thày là: Giu-đa đã chứng kiến quyền năng của Đức Giêsu và tin rằng Thày mình đúng là Đấng phải đến để thiết lập Vương Quốc của Thiên Chúa. Nhưng Giu-đa không đủ kiên nhẫn chờ đợi ngày Thiên Chúa ra tay và nhất là không chấp nhận con đường cứu thế của Đức Giê-su là con đường đau khổ. Con đường mà Giu-đa muốn Đức Giê-su theo là con đường vinh quang tức chiến thắng bằng bạo lực. Thấy Đức Giê-su cứ “dùng dằng” và “vô tư” trước âm mưu của kẻ thù, Giu-đa tìm cách đẩy Đức Giê-su vào chân tường để cưỡng ép Người dùng quyền năng và vũ lực mà làm cho thiên hạ phải bái phục. Giu-đa bị cám dỗ y như chính Đức Giê-su đã từng bị Xa-tan cám dỗ trong hoang địa. Nhưng Đức Giê-su đã chiến thắng Xa-tan và cám dỗ của nó, còn  Giu-đa thì đã thất bại và nghe theo nó. Đức Giê-su chọn là Mê-si-a tự hạ, tự hủy, khiêm cung và tự hiến, còn Giu-đa thì đã không chấp nhận điều ấy.
- Hai là trong bữa ăn cuối cùng của Thày trước lễ Vượt Qua năm 33, Chúa Giê-su là Đấng hết mực yêu thương chăm sóc các môn đệ bằng viêc lập Bí Tích Thánh Thể là Hiến Tế Tình Yêu và các Thừa Tác Viên có chức thánh để các ngài lặp lại Hiến Tế ấy : “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thày; Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là máu Thày…Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy.”
- Ba là trong vườn Cây Dầu Chúa Giê-su đã phải chịu nỗi cô đơn tột cùng trước viễn cảnh cuộc Thương Khó. Kể cả ba môn đệ thân tín nhất là Phê-rô, Gio-an và Gia-cô-bê, cũng không chia sẻ được những gì chứa chất trong tâm hồn Người và những gì đang chờ đợi Người ở phía trước. Nhưng Chúa Giê-su đã tỏ ra rất dũng cảm và tuyệt đối vâng phục Thánh Ý của Cha: ”Lạy Cha, nếu con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi,, thì xin vâng ý Cha”. Tại đây chúng ta còn khám phá Chúa Giê-su làĐấng bị rình bắt, như một tên bất lương; đồng thời bị phản bội bằng một cái hôn gỉa hình mang tính “chỉ điểm” của Giu-đa! Cũng tại đây chúng ta còn khám phá Chúa Giê-su có tấm lòng hiền lành, dịu dàng, ưa chuộng hòa bình và chủ trương bất bạo động: “Hãy xỏ gươm vào vỏ...”
- Bốn là Chúa Giê-su là Đấng đã bị chối bỏ bởi một trong bốn môn đệ đầu tiên và hết sức thân cận là Phê-rô, Tông đồ Trưởng của Nhóm Mười Hai. Phê-rô đã được  Đức Giê-su ưu ái cách đặc biệt khi được chứng kiến những giây phút rất riêng tư  và bí mật của Thày (trên Núi Ta-bo, trong Vườn Cây Dầu). Tại sao Phê-rô lại chối bỏ Thày mình một cách quá dễ dàng như thế? Chỉ có một lý do: Phê-rô là một kẻ nhát gan! Mới trước đó không lâu, chính Phê-rô còn khăng khăng quả quyết với Thày: “Dầu tất cả có vấp ngã đi chăng nữa, thì con cũng nhất định là không?” Nhưng chỉ mấy giờ sau thì Phê-rô đã chối phăng mối liên hệ của mình với Thày khi bị hai đứa tớ gái và gia nhân nhà thượng tế hạch hỏi. Ba lần bị hỏi là ba lần chối thẳng thừng: “Tôi chẳng biết, chẳng hiểu cô muốn nói gì! Tôi thề là không có biết người mà các ông nói đó!”
- Năm là sau khi bị Phê-rô chối, Chúa Giê-su còn bị các môn đệ khác bỏ rơi. Giu-đa đã bán Chúa. Phê-rô đã chối Chúa. Còn các môn đệ khác thì cũng chẳng hơn gì. Trừ  Gio-an có mặt dưới chân thập giá (theo Tin Mừng Gio-an) thì tất cả các môn đệ khác đều đã cao chạy xa bay và trốn biệt tăm biệt tích vì sợ hãi. Họ cũng nhát sợ như Phê-rô! Thế mà trước đó họ cũng thề thốt với Thầy như Phê-rô vậy.
- Sáu là tại dinh thượng tế Cai-pha, Chúa Giê-su là nạn nhân của những âm mưu đen tối và hèn hạ của giới hữu trách Đền Thờ Giê-ru-sa-lem và Do-thái giáo của người Ít-ra-en: Họ là các thượng tế, kinh sư  và kỳ mục của dân, tức là giới lãnh đạo cao cấp của Đền Thờ. Họ tìm mọi cách (kể cả vu oan, chứng dối) để loại trừ Người, chỉ vì Người không đi theo họ, không phục vụ quyền lợi của họ và làm giảm uy tín của họ. Tại dinh tổng trấn Phi-la-tô là đại diện của chính quyền đế quốc Ro-ma đô hộ, Chúa Giê-su là nạn nhân của viên tổng trấn vừa nhát gan vừa tham quyền cố vị, khi ông ta nhắm mắt làm ngơ trước người vô tội bị oan và đồng lõa với giới lãnh đạo Do-thái giáo, để khử trừ vị thiên sai và ngôn sứ vô tội.
- Bầy là Chúa Giê-su là Đấng bị đóng đinh và treo trên cây Thập giá trên ngọn đồi Gol-go-tha, nơi hành quyết những tên tội phạm hình sự. Ở đây trước khi nhắm mắt lìa đời Chúa Giê-su còn bị nhạo báng, sỉ vả và thách thức! Nhưng chính ở trên Cây Gỗ này mà Tình Yêu Cứu Chuộc của Thiên Chúa đã được thể hiện một cách mãnh liệt và huy hoàng nhất!
3.2 Bài Thương Khó Mt 26,14 -27,66 gồm những sứ điệp như sau:
- Sứ điệp đầu tiên là chúng ta hãy đón nhận và tôn vinh Tình Yêu vô bờ bến của Chúa Giê-su, Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa làm người, đã chịu nạn chịu chết để cứu chuộc nhân loại. Vì yêu thương và cứu độ loài người theo ý định của Chúa Cha, nên Chúa Giê-su đã chấp nhận mọi cực hình trong tinh thần và thể xác.
- Sứ điệp thứ hai là chúng ta hãy suy gẫm và tìm hiểu tính bí nhiệm của chương trình hay kế hoạch của Thiên Chúa. Thiên Chúa toàn năng toàn trí có thể cứu chuộc loài người bằng trăm triệu cách mà lại chọn con đường Thập giá. Thiên Chúa cực thánh đã trở thành một kẻ tội phạm đáng khinh bỉ, bị phản bội, bị đầy đọa một cách bất công….
- Sứ điệp thứ ba là chúng ta hãy cảnh giác với sự tráo trở của lòng dạ con người nơi chính bản thân chúng ta. Chúa Giê-su đã là nạn nhân của sự nhát gan của các tông đồ và tổng trấn Phi-la-tô. Người cũng đã là nạn nhân của sự xảo trá, ghen tỵ nhỏ nhen của giới lãnh đạo tôn giáo. Người còn là nạn nhân của sự tàn ác, vũ phu của bọn lính và sự vô ơn của đám đông quần chúng, thì chúng ta đừng quá ngây thơ mà cho rằng không ai có thể phản bội chúng ta!
IV. PHẦN ĐÁP TRẢ CỦA CHÚNG TA
Đọc/Nghe bài Thương Khó của Tin Mừng Mát-thêu (26,14 - 27,66) chúng ta không thể không đặt cho mình  ba câu hỏi sau:
- Một là tôi có suy nghĩ và hành động giống Giu-đa không? Có bao giờ tôi muốn Đức Giê-su làm theo ý mình không? Có bao giờ tôi đã cam tâm bán rẻ Đức Giê-su và Đạo Thánh của Người để lấy một chút vinh hoa, phú quí, quyền chức, tiền bạc hay thú vui không?
- Haì là tôi có suy nghĩ và hành động giống Phê-rô không? Phê-rô yêu Thày thật sự và với tất cả tâm hồn và bầu nhiệt huyết. Nhưng Phê-rô ỷ vào sức riêng mình và sợ chết. Còn tôi, tôi có ỷ sức mình, có tự cao, tự đại, kiêu căng mà coi thường sự giòn mỏng của bản thân mình không? Tôi có sợ bị liên lụy với Đức Giê-su không?
- Ba là tôi có suy nghĩ và hành động giống như các môn đệ khác của Đức Giê- su không? Tôi có nhát đảm, có sợ bị thiệt thòi, sợ bị sa thải, sợ mất việc làm, sợ bị trù dập, sợ bị mang tiếng là người duy tâm lạc hậu khi người ta biết tôi là người Công giáo, là Ki-tô hữu không?
V. CẦU NGUYỆN
Lạy Chúa Giê-su là Ngôi Lời Nhập Thể, là Bánh Hằng Sống, là Hy Lễ dâng lên Chúa Cha vì tội lỗi thế gian và tội lỗi của con.
Xin ban cho con
ơn nhận biết và can đảm tuyên xưng Chúa là Ngôi Lời,
ơn biết rao giảng, loan truyền Chúa là Sự Thật,
ơn biết đi theo con đưòng của Chúa vì chỉ có Chúa là Đường,
ơn biết thắp lên Ánh Sáng Tin Mừng vì Chúa là Ánh Sáng,
ơn biết chết cho mình và sống cho Chúa vì Chúa là Sự Sống,
ơn biết yêu Chúa và yêu thương tha nhân vì Chúa là Tình Yêu,
ơn biết chia sẻ niềm vui với mọi người vì Chúa là Niềm Vui,
ơn biết tận hiến đời con cho Chúa vì Chúa là Của Lễ,
ơn biết trở nên khí cụ trao ban bình an của Chúa vì Chúa là Bình An,
ơn biết khao khát và ơn năng rước Thánh Thể vì Chúa là Bánh Hằng Sống.
(Phỏng theo tư tưởng của Thánh Tê-rê-xa Cal-cut-ta).
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội. 

by Unknown · 0

Thứ Sáu, 5 tháng 7, 2013

TIẾNG NÓI CỦA SỰ THINH LẶNG

Sự gì phải đến sẽ đến. Sự thinh lặng là điều tất nhiên phải đến với bất cứ ai.

Tôi đón chờ nó. Thánh ý Chúa muốn vậy.

Tôi đón chờ bằng tâm tình tạ ơn.

Tôi tạ ơn Chúa về mọi ơn lành Chúa đã ban cho tôi. Một trong những ơn tôi phải tạ ơn đặc biệt, đó là ơn sống đức tin.

Đức tin mà tôi đã lãnh nhận cũng giống đức tin Chúa ban cho mọi con cái Chúa. Nhưng tôi sống đức tin ấy trong nhiều tình tiết khó khăn. Những khó khăn ấy xem ra nhiều tín hữu cũng đã trải qua. Nhưng họ không nói ra.

Nếu hôm nay, tôi nói ra đôi chút, thì thiết tưởng đó cũng là tiếng nói chung của sự thinh lặng. Sự thinh lặng như một hiện diện làm chứng và hiệp thông của tôi và của nhiều người.

Nhìn lại con đường sống đức tin trong lòng Quê Hương và Hội Thánh, tôi thấy đức tin của tôi và của nhiều người đã mang mấy điều sau đây.

1. Một đức tin mang dấu ấn sự sợ hãi.

Sự sợ hãi trong đời sống đức tin của nhiều người chúng tôi là một sự thật nên nói ra. Bởi vì tin trong sợ hãi là điều xấu.

Ta hãy nhớ lại sự sợ hãi của tiên tri Êlia. Vì sợ bà hoàng hậu Ideven, tiên tri Êlia đã đi trốn. Ban đầu ông trốn vào sa mạc, rồi đi suốt 40 ngày đêm cho tới núi Khôrep. Lúc thì ông ngủ dưới gốc cây, lúc thì ông ngủ trong hang (x 1V 19, 3-9). Êlia là tiên tri, mà còn sợ hãi đến mức đó.

Nếu cần thêm một minh chứng nữa về sự sợ hãi trong đức tin, chúng ta có thể nhìn lại các tông đồ Chúa Giêsu. Ở vườn cây dầu, khi thấy Thầy mình bị bắt, các ngài quá sợ, đã chạy thoát thân (x Mc 14, 50). Sau khi Chúa phục sinh, các tông đồ vẫn còn sợ. Họ họp nhau trong phòng đóng kín cửa (x Ga 20, 19).

Còn chúng ta, khi gặp nhiều trường hợp khó khăn, có người như cảm thấy mất hết các điểm tựa quen thuộc. Đức tin bấy giờ như chiếc xuồng nhỏ trôi giữa biển cả sóng cao gió mạnh. Trong sợ hãi đức tin chúng tôi đã chỉ còn biết tìm về một mình Chúa mà thôi. Và Chúa đã đến như Đấng Cứu độ đầy tình thương xót.

2. Một đức tin mang dấu ấn sự đau khổ.

Đức tin của chúng tôi không những đã trải qua nhiều sợ hãi, mà cũng đã nếm nhiều đau khổ. Những đau khổ lớn nhất là do thử thách về sự vâng phục ý Chúa.

Để dễ hiểu khía cạnh này, chúng ta có thể nhắc đến trường hợp ông Abraham. Ngài được Chúa dạy phải sát tế con mình là Isaac (x St 22, 1-19). Một gương vâng lời nữa gây nhiều đau khổ là trường hợp Đức Mẹ Maria. Mẹ vâng lời Chúa, nhưng vâng lời đó sẽ là một lưỡi gươm đâm thâu tâm hồn Mẹ (x Lc 2, 35).

Vâng lời của nhiều người chúng tôi cũng đã gây nên những mất mát. Chúng tôi vâng lời, mà không biết sự gì sẽ xảy ra, và mình sẽ được lợi gì. Phép lành của Chúa không được hứa hẹn. Cái hợp lý không xuất hiện với những lý luận tự nhiên. Sự vâng lời như dồn mình tới tận cùng giới hạn sự am hiểu, mà mình cho là sáng suốt.

Nhưng khi đức tin chịu vâng phục ý Chúa với sự chấp nhận hy sinh, thì con người chúng tôi đã khám phá ra rằng: Đời sống đức tin không thể tách rời khỏi sự vâng phục ý Chúa. Đó là một mầu nhiệm. Chính ở điểm đó mà nhiều người chúng tôi mới trở thành chứng nhân âm thầm của đức tin.

3. Một đức tin mang dấu ấn sự cô đơn.

Ngoài đau khổ và sợ hãi, đức tin của chúng tôi còn mang dấu ấn của sự cô đơn.

Hình ảnh sống động nhất về sự cô đơn là hình ảnh Chúa Giêsu trên thánh giá. Lời Người kêu thảm thiết: “Lạy Cha, sao Cha nỡ bỏ con” (x Mc 15, 34) diễn tả một sự cô đơn khủng khiếp.

Trong các người tin theo Chúa, không thiếu người đã trải qua những trường hợp cô đơn ghê sợ. Hoài nghi tiếp nối hoài nghi. Nhưng hoài nghi lại nuôi đức tin. Rồi đức tin lại nở sinh những hoài nghi mới. Con người sống đức tin như bị rơi vào con đường hầm tăm tối. Họ cầu nguyện, nhưng cảm thấy quá khô khan. Họ tìm Chúa, nhưng cảm thấy như Chúa vắng mặt. Họ nhìn xung quanh xem có ai tin được, nhưng hình như mọi người đều dửng dưng xa tránh.

Nếu ai hỏi họ tại sao đức tin họ lại cô đơn, thì họ không cắt nghĩa được. Và đó là cảnh cô đơn mênh mông rùng rợn. Nếu hỏi họ cô đơn nào nguy hiểm nhất? Thì đôi khi họ chỉ nói trống là: Từ nội bộ. Và đó là sự nghịch lý chua chát, mà thánh Gioan đã nói ngay ở đầu Phúc âm của Ngài (x Ga 1,11).

Xã hội và Giáo hội là chiến trường giữa thiện và ác. Khi não trạng coi trọng của cải danh vọng hơn đức tin đức ái phát triển mạnh ở đó, thì những ai đi ngược lại sẽ bị cô đơn. Sự cô đơn của đức tin thường hay bén nhạy. Nó cũng dễ đưa con người tới những suy tư về ý nghĩa cuộc đời và các biến cố. Những suy tư như thế là cửa mở ra về cõi đời đời.

Với “Tiếng nói của sự thinh lặng” trên đây, tôi muốn nói lên cảm tưởng này của tôi là: Đức tin ví được như một viên ngọc quý Chúa ban. Viên ngọc quý này sẽ phải được giữ gìn, và sẽ được sáng lên nhờ những thử thách. Có nhiều thử thách, nhưng nên để ý nhiều hơn đến sợ hãi đau khổ và cơ đơn. Vì thế, việc mà Chúa muốn chúng ta thực hiện không phải là tránh được những thử thách đó. Hành trình sống đức tin như thế sẽ phác hoạ lại lời thánh tông đồ Phaolô xưa:

“Kho tàng ấy, chúng ta lại chứa đựng trong những bình sành, để chứng tỏ quyền năng phi thường phát xuất từ Thiên Chúa, chứ không phải từ chúng tôi. Chúng tôi bị dồn ép tư bề, nhưng không bị đè bẹp; hoang mang, nhưng không tuyệt vọng; bị ngược đãi, nhưng không bị bỏ rơi; bị quật ngã, nhưng không bị tiêu diệt.

Chúng tôi luôn mang trong thân mình cuộc thương khó của Đức Giêsu, để sự sống cũng biểu lộ nơi thân mình chúng tôi” (x 2 Cr 4, 7-10).

Với nhận thức trên đây, tôi xin tạ ơn Chúa vì hành trình đức tin. Dù trong thing lặng, hành trình ấy chính là những vượt qua, nhờ cuộc thương khó của Chúa Giêsu là mục tử nhân lành. Người luôn ở trong đời sống chúng ta.

Xin âm thầm tạ ơn Chúa trong cõi thinh lặng.
Xin âm thầm tạ ơn Chúa với những người thinh lặng.

+GM JB Bùi Tuần

Sưu tầm từ :

Thứ Sáu, 5 tháng 7, 2013 by Unknown · 0

Thứ Hai, 24 tháng 6, 2013

Cầu nguyện là thiêng liêng và cân đối

Những năm làm việc sinh ích của chúng ta là một cuộc đua đường dài chứ không phải cuộc đua nước rút, do đó sẽ khó giữ vững tính mềm mại, lòng quảng đại và kiên nhẫn khi phải đi qua những lúc mệt mỏi, thử thách, cám dỗ vây quanh chúng ta trong suốt đời sống người lớn. Khi phải dựa hoàn toàn vào chính mình, chỉ tin vào sức mạnh của ý chí, chúng ta thường bị mệt nhọc, sức chịu đựng đi xuống, làm việc nửa vời, cả trong sự chín chắn và kỷ luật của mình. Chúng ta cần một hổ trợ từ bên ngoài, từ một nơi nào đó nằm ngoài hỗ trợ của con người, và sự hỗ trợ đó sẽ nâng đỡ chúng ta. Chúng ta cần sự giúp đỡ của Thiên Chúa, một sức mạnh khởi xuất từ một điều gì đó cao hơn sức mạnh của con người. Chúng ta cần cầu nguyện.
Nhưng thường thường chúng ta nghĩ về cầu nguyện là lòng mộ đạo hơn là một cái gì thực tế. Hiếm khi chúng ta hiểu cho thấu cầu nguyện thật ra là một vấn đề sống chết đối với chúng ta. Chúng ta cần cầu nguyện không phải vì Chúa cần lời cầu nguyện, nhưng nếu không cầu nguyện, chúng ta sẽ không bao giờ tìm thấy một cái gì kiên định trong đời sống của mình. Đơn giản, nếu không  cầu nguyện, chúng ta sẽ luôn luôn hoặc sống quá nhiều về bản thân, hoặc quá thiếu sinh lực, nói cách khác, hoặc tự mãn hoặc chán nản. Tại sao vậy? Mổ xẻ vấn đề này, chúng ta sẽ thấy gì?

Dù hiểu theo tất cả những gì tốt đẹp nhất trong truyền thống Kitô giáo hay không, cầu nguyện mang đến cho chúng ta hai điều cùng một lúc: Nối kết chúng ta với sinh lực thiêng liêng và cho chúng ta nhận thức. Năng lực này không phải của chúng ta, nó đến từ một nơi khác, và có lẽ chúng ta chẳng bao giờ xác định được. Với tác động của nó, cầu nguyện sẽ đổ đầy sinh lực thiêng liêng cho chúng ta, cùng lúc nó cho chúng ta biết sinh lực này không phải của chúng ta, sinh lực này hoạt động trong chúng ta, nhưng không phải do chính chúng ta. Để lành mạnh, chúng ta cần cả hai: Nếu mất nối kết với sinh lực thiêng liêng, chúng ta sẽ cạn kiệt sinh lực, nản lòng và thấy trống rỗng. Ngược lại, nếu để sinh lực thiêng liêng tuôn chảy mà không cần xác định chính xác nó là gì, cứ nghĩ nó là của mình, thì từ đó chúng ta thành người tự đại, tự mãn, tự cho mình là quan trọng và kiêu ngạo, rồi từ đó sẽ ích kỷ và hư mất.  

Để làm sáng tỏ điều này, Robert Moore đã minh họa một hình ảnh rất hữu ích, một chiến đấu cơ nhỏ cần được tiếp năng lượng trong lúc bay. Chúng ta từng xem các đoạn phim ngắn, chiếu cảnh một chiến cơ được tiếp nhiên liệu trong khi bay. Tàu mẹ với dự trữ nhiên liệu khổng lồ, bay trên tàu con. Tàu con phải bay đủ gần tàu mẹ, để vòi xăng từ tàu mẹ nối được với tàu con, và đổ đầy nhiên liệu cho nó. Nếu không làm được cách nối này, tàu con sẽ cạn nhiên liệu và sẽ rớt. Ngược lại, nếu nó bay thẳng vào và nhập một với tàu mẹ, thì nó sẽ cháy. 

Một vài hình ảnh trên nói lên được tầm quan trọng của cầu nguyện trong đời sống chúng ta. Không có cầu nguyện, mãi mãi chúng ta sẽ chỉ thấy mình dao động chập chờn giữa cạn kiệt sinh lực và quá nhiều cái tôi. Nếu không nối kết với sinh lực thiêng liêng, chúng ta sẽ như phi cơ cạn xăng. Nếu nối kết với sinh lực thiêng liêng theo kiểu đồng nhất vào đó, chúng ta sẽ hủy hoại chính mình.

Cầu nguyện sâu đậm vừa thêm sinh lực, vừa làm trụ nâng đỡ chúng ta. Chúng ta có thể thấy điều này nơi mẹ Têrêxa, người thiết tha với sinh lực sáng tạo nhưng luôn luôn xác định rõ ràng, sinh lực này không xuất phát từ mình, mà chính từ Thiên Chúa, mẹ chỉ là thọ tạo khiêm hèn mà thôi. Thiếu cầu nguyện sẽ tạo ra hai dạng tương phản với mẹ Têrêxa. Một mặt, nó làm cho những người đầy sinh lực sáng tạo trở nên cực kỳ tài năng và hăng hái, nhưng đồng thời cũng đầy cái tôi và tự đại; hay ngược lại, nó làm cho người ta cảm thấy trống rỗng và tẻ nhạt, không phát ra được sinh lực tích cực nào. Không có cầu nguyện, chúng ta sẽ luôn luôn chao qua chao về giữa hai trạng thái tự đại và nản lòng.  

Vì thế, là người nhạy cảm, nếu trong đời sống, tôi không cầu nguyện một cách trung thực, tôi sẽ sống trong khủng hoảng thường xuyên, ngại rằng nếu tôi bám lấy và hành động trên sinh lực của mình sẽ làm cho người khác nghĩ rằng tôi chỉ biết nghĩ đến cái tôi của mình. Vì là người nhạy cảm, tôi không chấp nhận như thế, nên tôi chôn vùi các sinh lực tốt nhất của mình với lối suy nghĩ vô thức rằng nản lòng thì tốt hơn là bị cho là ích kỷ. Nhưng Chúa Giêsu, trong dụ ngôn kể về các tài năng, đã cảnh báo mạnh mẽ về cái giá phải trả khi chôn vùi tài năng của mình, cụ thể là, những gì chúng ta phải trả là sự trống rỗng, giận dữ, và thiếu vui tươi trong cuộc sống. Thường thường, khi chúng ta dò sâu xuống bên dưới các giận dữ, ghen tương, chúng ta sẽ thấy nơi đó có một tài năng bị chôn vùi đang cay đắng vì bị đè nén. Đức hạnh có được nhờ đè nén sinh lực sẽ dẫn đến nỗi chua cay mà thôi.

Ngược lại, nếu tôi không quan tâm đến việc người khác nghĩ tôi là người ích kỷ, cuộc sống tôi cũng chẳng biết cầu nguyện thực sự là gì, thì tôi sẽ để những dòng sinh lực thiêng liêng chảy tự do trong tôi, và tôi sẽ đồng nhất mình với chúng như thể chúng là của tôi, là tài năng của tôi và tặng vật của riêng tôi, kết cục tâm hồn tôi sẽ đầy cái tôi và tự đại, và rồi những người xung quanh sẽ mong tôi sớm gặp khủng hoảng!

Không có cầu nguyện, mãi mãi chúng ta sẽ hoặc cạn kiệt sinh lực hoặc mang trong mình quá nhiều cái tôi, chỉ vậy mà thôi.

Fr. Ron Rolheiser, OMI


Thứ Hai, 24 tháng 6, 2013 by Unknown · 0

Thứ Hai, 10 tháng 6, 2013

Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu - Suy niệm 12 Lời Hứa của Thánh Tâm Chúa Giêsu


Nữ thánh Marguerite-Marie Alacoque sinh ngày 22 tháng 7 năm 1647, tại  Bourgogne, nước Pháp. Chị mồ côi cha mẹ lúc 12 tuổi. Năm 24 tuổi, chị có thể thực hiện ơn goi của mình là đáp lại tình yêu nồng nhhiệt của Thánh Tâm Chúa Giêsu: «Đây là Trái Tim đã yêu thương loài người đến cạn kiệt và tự thiêu hủy mình để làm chứng cho loài người biết Tình Yêu của Ngài».
Thánh Tâm Chúa Giêsu đã mạc khải cho nữ thánh Marguerite-Marie Alacoque 12 ơn đặc biệt dành cho những ai tôn sùng Thánh Tâm Ngài.
Sau đây là bài suy niệm 12 Ơn của Thánh Tâm Chúa Giêsu hứa ban cho những ai sùng kính Thánh Tâm Ngài.
1. Cha sẽ ban cho các kẻ tôn sùng Thánh Tâm Cha tất cả những ơn cần thiết theo đấng bậc.
Sống trên đời nầy, ai cũng có những nghĩa vụ phải chu toàn theo đấng bậc mình : đấng bậc của người làm chồng, làm vợ; đấng bậc của người làm cha, làm mẹ; đấng bậc của người làm con; đấng bậc của linh mục, của tu sĩ; đấng bậc của cha sở, của con chiên; đấng bậc của thầy cô, của học sinh;...
Đấng bậc của chúng ta, do Chúa an bài sắp đặt. Và khi đặt chúng ta vào hoàn cảnh nào, Chúa cũng ban đủ ơn cần thiết để chúng ta làm trọn những bổn phận ấy một cách trọn lành, cho đẹp lòng Chúa. Khi chúng ta làm trọn những bổn phận theo đấng bậc mình, là chúng ta thực hành thánh ý Chúa trong đời sống của mình, là chúng ta nên thánh theo như ý Chúa muốn. Chúng ta hãy xin Thánh Thâm Chúa Giêsu ban ơn nầy một cách đặc biệt cho chúng ta.
2. Cha sẽ ban cho gia đình các con được bằng an.
Chúa Giêsu xem sự bằng an trong gia đình rất quan trọng : ngài đã sống trong một gia đình vô cùng bằng an êm ấm; cả ba thành phần trong gia đình Nadarét nầy, Chúa Giêsu, Đức Mẹ và thánh Giuse, luôn sống đẹp lòng Chúa, luôn sống theo thánh ý Chúa.
Chúng ta thấy có những gia đình không bằng an vì không chịu nhịn nhục nhau, vì chỉ lo sống trục lợi, vì sống ích kỷ, vì vợ chồng cha mẹ vô trách nhiệm, vì con cái cứng cổ bất hiếu. Chúng ta hãy xin Thánh Tâm Chúa Giêsu ban ơn bằng an cho gia đình chúng ta, để gia đình chúng ta trở nên một thiên đàng trên mặt đất, chứ không phải là một địa ngục trên trần gian.
3. Cha sẽ an ủi con trong cơn gian khổ.
Con người sinh ra trong đau khổ, sống trong đau khổ, chết trong đau khổ. Những đau khổ phần xác, những đau khổ phần hồn, không có lúc nào mà chúng ta không nếm chịu, không có ngày nào mà chúng ta không trải qua. Chúa Giêsu là con người vô địch đau khổ : đau khổ từ máng cỏ lạnh lùng đến Núi Sọ thương tâm. Dù vậy, Chúa Giêsu vẫn quên những nỗi khổ của mình, nhớ đến những nỗi khổ của chúng ta. Ngài dạy chúng ta hãy đến với ngài để ngài nâng đỡ ủi an. Chúng ta hãy xin Thánh Tâm Chúa Giêsu an ủi chúng ta khi chúng ta đau khổ, vì chỉ có Chúa làm cho chúng ta hết khổ mà thôi, vì chỉ có Chúa làm chúng ta vui mừng trong khi chịu đau khổ vì Chúa.
4. Trái Tim Cha là nơi náu ẩn trọn đời cho các con, nhất là trong giờ các con lâm tử.
Lạy Chúa Giêsu, khi đến giờ con hấp hối, sắp chết, những cơn đau đớn nặng nề cuối cùng sẽ bóp nghẹt con, không để cho con cử động được gì, không để cho con ngẩng đầu lên nhìn Chúa và câù khẩn được gì nữa, vì lúc đó, con đã kiệt sức rồi. Xin Thánh Tâm Chúa Giêsu hãy thương xót con lúc đó, và hãy nhớ đến lời hứa giúp con trong giờ lâm tử. Khi các ngủ quan của con không còn hoạt động nữa, khi linh hồn con đã gần kề lìa xác, khi cha mẹ vợ chồng con cái bà con thân nhân ân nhân bạn hữu thấy con đã mất sắc, đứng tròng, nên bỏ con trơ trọi một mình, lúc đó, xin Thánh Tâm Chúa Giêsu đừng để con bơ vơ, nhưng xin đưa con vào ẩn náu trong Trái Tim Chúa, và cho con được chết lành trong tình yêu của Chúa.
5. Cha sẽ chúc phúc tràn trề cho các công việc con làm.
Lạy Chúa, đời con làm nhiều việc, nhưng con sợ ma quỷ lượm hết, vì có thể con làm không phải vì lòng yêu mến Chúa, không làm cho sáng danh Chúa. Lạy Chúa, con sợ con làm mà không có ý ngay lành. Hôm nay, con xin Chúa chứng nhận ý ngay lành của con trong mọi công việc con làm vì Chúa. Xin Chúa chúc phúc tràn trề cho các công việc con làm trong suốt đời con.
6. Kẻ có tội sẽ gặp nơi Trái Tim Cha một biển cả thương xót bao la.
Trái tim con người là nơi chứa chấp bao ước muốn tội lỗi, bao sa ngã ngấm ngầm, bao hèn nhát kín đáo, bao dung túng, gian dối, phỉnh gạt. Trái tim con người hướng dẫn những lời nói việc làm do tình dục hổn độn thúc đẩy. Trái lại, Trái Tim Chúa Giêsu là nơi thánh thiện vô cùng. Đây là biển cả thương xót bao la đối với người tội lỗi. Từ Thánh Tâm Chúa, xin Chúa thứ tha tội lỗi cho chúng con.
7. Các linh hồn khô khan sẽ trở nên sốt sắng.
Lạy Chúa, khi linh hồn con khô khan thì con sống uể oải, ươn hèn, ơ hờ, nguội lạnh, cố chấp, sống theo dục tình hổn loạn, nể sợ người ta, thiếu cố gắng trên đường thiêng liêng, ngại ngùng làm việc lành phước đức. Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu, xin chữa bệnh khô khan của chúng con, cho chúng con trở nên sốt sắng đẹp lòng Chúa.
8. Các linh hồn sốt sắng sẽ mau tiến tới đỉnh trọn lành.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa dạy chúng con hãy nên trọn lành như Cha chúng con trên trời. Sự trọn lành chủ tại thi hành lòng mến Chúa một cách thường xuyên, liên tục. Xin Chúa cho con sống Lời Chúa : Dù khi ăn, dù khi uống, dù khi làm việc gì, cũng làm vì lòng yêu mến Chúa, cũng làm cho sáng danh Chúa.
9. Cha sẽ chúc lành cho các gia đình có trưng bày và tôn kính ảnh Thánh Tâm Cha.
Lạy Chúa, bà thánh Vêrônica nhìn lên mặt Chúa, lau mặt Chúa, và Chúa để ảnh Chúa lại trên khăn của bà và trong trái tim của bà. Xin Chúa cho chúng con năng nhìn lên ảnh Thánh Tâm Chúa trong gia đình chúng con, để chúng con được Chúa chúc lành.
10. Cha sẽ ban cho các linh mục tài lay chuyễn các tấm lòng chai đá nhất.
Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu,  xin cho các linh mục yêu mến Thánh Tâm Chúa, để các ngài làm cho những kẻ chai đá tội lỗi được ăn năn trở lại.
11. Tên kẻ truyền bá sự sùng kính Thánh Tâm sẽ được khắc vào Trái Tim Cha, không hề bị phai mờ.
Lạy Chúa, xin cho chúng con biết làm cho những người trong gia đình chúng con, trong giáo xứ chúng con, biết tôn sùng Thánh Tâm Chúa, để được Chúa luôn yêu thương.
12. Bởi lòng lân tuất quá bội của Thánh Tâm, Cha hứa rằng tình yêu toàn năng của Thánh Tâm sẽ ân ban cho các kẻ rước lễ liên tiếp chín thứ sáu đầu tháng, được ơn ăn năn trong giờ sau hết, không phải chết thất nghĩa cùng Cha, lại được lãnh nhận các bí tích vì Thánh Tâm Cha sẽ nên nơi náu ẩn vững vàng trong giờ ấy.
Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết giữ những ngày Thứ Sáu Đầu Tháng bằng cách tham dự Thánh Lễ và Rước Chúa Giêsu Thánh Thể để chúng con được Chúa thương cho hưởng ơn chết lành trong giây phút cuối cùng của đời mình.
Amen.
Lm Emmanuen Nguyễn Vinh Gioang
CỎ ĐUÔI GÀ sưu tầm

Thứ Hai, 10 tháng 6, 2013 by Unknown · 0


Copyright © 2013. Cỏ Đuôi Gà - 0932.034.777
Design by Cỏ Đuôi Gà™
Điện thoại hỗ trợ: 0932.034.777 - Email: jacbao.pham@gmail.com